
Giữa cái nắng hè bỏng rát của mảnh đất Đức Thọ với nền nhiệt có lúc lên tới 39 - 40 độ C, gian bếp của gia đình vợ chồng bà Hoàng Thị Thanh (thôn 4, xã Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh) vẫn ngày ngày đỏ lửa, vợ chồng bà vẫn miệt mài sản xuất cho ra lò những mẻ bún dẻo dai, thơm ngon nức tiếng để cung ứng cho khách hàng.
Tại địa phương, vợ chồng bà Thanh đã có thâm niên hơn 30 năm làm bún thủ công được khách hàng trong và ngoài địa phương biết đến. Mỗi ngày 2 vợ chồng ông sản xuất, cung cấp cho thị trường từ 1 tạ đến 1,5 tạ bún.

Bà Thanh chia sẻ: Có người từng hỏi tôi: Làm bún vất vả như vậy, phải thức khuya dậy sớm, tay chân lúc nào cũng lấm lem nước vôi, bột gạo, nhưng sao không chọn việc khác nhẹ nhàng hơn? Những lúc ấy, tôi chỉ cười. Với tôi, và với rất nhiều người con của mảnh đất Đức Thọ này, bún không đơn thuần là một món ăn sinh kế. Đó là cái nghiệp, là dòng chảy thanh xuân của cha ông truyền lại, và là niềm tự hào thấm đẫm vào từng thớ thịt của chúng tôi.
Nghề làm bún Đức Thọ khá độc và lạ. Sợi bún không trắng trong, chuẩn chỉnh như bún làm từ máy công nghiệp, mà lại có màu trắng ngà tự nhiên, sợi to, thô nhưng dẻo dai và đậm đà vị gạo. Để có được một mẻ bún ngon, người làm bún phải đánh đổi bằng cả mồ hôi và sức khỏe và sự dẻo dai. Ngày mưa cũng như ngày nắng, khi cả làng quê còn đang chìm trong giấc ngủ, thì những căn bếp của ngôi nhà ở xóm làm bún đã đỏ lửa.

Gia đình chị Nguyễn Thị Hồng (thôn 4, xã Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh) cũng đã gắn bó với nghề bún truyền thống từ nhiều đời nay. Với gia đình chị, sản xuất bún vừa giúp cải thiện kinh tế gia đình vừa lưu giữ nghề truyền thống của cha ông.
Chị Thanh chia sẻ: Dù thời tiết thế nào chúng tôi vẫn luôn miệt mài lao động bên những bếp lửa đỏ rực và những chiếc nồi nghi ngút khói để có những mẻ bún ngon cho khách hàng. Mỗi sợi bún ra lò nóng hổi, thơm nồng mùi gạo mới chính là kết tinh của nắng gió miền Trung và sự nhẫn nại của con người Đức Thọ. Khi sợi bún ấy kết hợp với nước dùng bò đun từ sườn bò béo ngậy, thêm chút hành và ớt cay, nó trở thành món bún bò Đức Thọ nức tiếng gần xa.

Theo người làm bún, họ phải lựa chọn loại gạo chuẩn vùng quê lúa có tinh bột cao, dẻo thơm, đem ngâm ủ đủ độ, xay nhuyễn thành thứ bột mịn màng, rồi ép bồng, nhào trộn sao cho thật dẻo. Công đoạn "bắt bún" qua khuôn đồng vào nồi nước sôi sùng sục đòi hỏi một đôi tay vừa khéo léo, nhanh nhẹn vừa mạnh mẽ. Sợi bún ngon hay dở, đều nằm ở cái tài cảm nhận nhiệt độ và độ chín của người thợ.
Ngày nay, với nhịp sống hiện đại và công nghiệp hóa ngày càng phát triển nhưng với nhiều người làm bún Đức Thọ dù khó khăn, vất vả họ vẫn cố gắng giữ được cái nghề truyền thống. Sợi bún làm thủ công, dùng nguyên liệu tự nhiên không chất bảo quản thì giá thành cao hơn, lại tốn nhiều công sức, khó cạnh tranh với bún máy. Do vậy sản lượng không nhiều, thu nhập từ nghề không cao. Trong làng, hiện nay chỉ những người cao tuổi giữ nghề truyền thống này còn thanh niên trong làng giờ đây đa số chọn đi làm ăn xa hoặc vào các nhà máy.
Những năm gần đây, nhờ khoa học công nghệ phát triển, nhiều hộ gia đình đã đầu tư máy móc làm bún để giải phóng sức lao động và nâng cao năng suất. Do đó, số hộ làm bún theo kiểu truyền thống ngày càng giảm.

Giữ nghề làm bún Đức Thọ không chỉ là giữ một công thức nấu ăn, mà là giữ lại "hồn quê", giữ lại cái danh tiếng của mảnh đất địa linh nhân kiệt. Nghề truyền thống bao đời vẫn đang được các gia đình và những người thợ bún nơi đây duy trì. Và họ vẫn đang hằng ngày thắp lửa, cải tiến quy trình để bún sạch hơn, tiếp cận được nhiều khách hàng hơn mà không làm mất đi cái chất mộc mạc, đậm đà vốn có.
Đối với những người làm nghề, sợi bún Đức Thọ là kết tinh tinh hoa của mảnh đất Đức Thọ để quảng bá đến thực khách gần xa. Với họ, chỉ cần thực khách còn yêu, người dân Đức Thọ còn thương cái vị dẻo dai, thơm bùi ấy, thì những bếp lửa làng nghề ở mảnh đất này sẽ không bao giờ tắt.