
Song hành với định hướng nội tại, Việt Nam cũng đang chịu tác động từ các cam kết quốc tế, nổi bật là mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Đây không chỉ là cam kết mang tính ngoại giao mà còn tạo ra áp lực chuyển đổi sâu rộng đối với toàn bộ nền kinh tế, từ mô hình tăng trưởng dựa vào tài nguyên sang mô hình phát triển xanh, ít phát thải.
Để thực hiện điều này, nhu cầu vốn đầu tư là rất lớn và tài chính xanh, đặc biệt là tín dụng xanh, được xem là công cụ then chốt. Tuy nhiên, đi cùng với đó là những rủi ro không nhỏ, từ rủi ro vật lý do biến đổi khí hậu đến rủi ro chuyển đổi khi chính sách và công nghệ thay đổi nhanh chóng. Chính vì vậy, vai trò điều phối của Ngân hàng Nhà nước trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, khi tài chính xanh không còn là câu chuyện riêng của môi trường mà đã trở thành một trụ cột của an toàn tài chính vĩ mô.
Dù khung chính sách ngày càng hoàn thiện, thực tế lại cho thấy một khoảng cách đáng kể giữa chủ trương và triển khai. Dữ liệu hiện nay phản ánh rõ điều này khi tín dụng xanh mới chỉ chiếm khoảng 4,3 - 4,5% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, cho thấy dòng vốn này vẫn chưa thực sự lan tỏa đến khu vực doanh nghiệp tư nhân như kỳ vọng.

Nhìn vào các con số, tín dụng xanh tại Việt Nam đang có xu hướng tăng trưởng. Tính đến quý I/2025, dư nợ tín dụng xanh đạt hơn 704.244 tỷ đồng, tăng 3,57% so với cuối năm 2024 và có sự tham gia của 58 tổ chức tín dụng. Trước đó một năm, con số này là 636.964 tỷ đồng với 47 tổ chức tín dụng. Dòng vốn xanh hiện chủ yếu tập trung vào năng lượng tái tạo, năng lượng sạch (chiếm hơn 43%) và nông nghiệp xanh (trên 30%).
Dù vậy, phía sau những con số này là một thực tế chưa trọn vẹn. Tỷ trọng tín dụng xanh vẫn còn khá khiêm tốn so với quy mô nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam là quốc gia có độ phụ thuộc cao vào tín dụng ngân hàng. Điều này phần nào phản ánh những rào cản chưa được tháo gỡ.
Theo bà Nguyễn Phương Linh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý phát triển bền vững, “phần lớn doanh nghiệp nông nghiệp đã thực hành ESG, nhưng thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở nhận thức, mà ở năng lực thực thi và khả năng chuyển hóa các thực hành này thành chuyển đổi hiệu quả và thực chất”. Bà cũng chỉ ra một nghịch lý: “những doanh nghiệp làm tốt hơn chưa chắc tiếp cận được các nguồn lực hỗ trợ phù hợp, bao gồm tài chính bền vững”.

Một khảo sát của Viện Nghiên cứu Quản lý Phát triển bền vững công bố ngày 20/3 cho thấy khoảng cách rõ rệt giữa thực hành bền vững và khả năng tiếp cận vốn. Trong số 97 doanh nghiệp và hợp tác xã thuộc các ngành cà phê, gạo, thủy sản, rau quả, chỉ duy nhất một đơn vị vay được vốn ưu đãi từ ngân hàng. Đây là tỷ lệ rất thấp, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đã ban hành danh mục phân loại xanh với 7 lĩnh vực và 45 ngành, cùng với các cơ chế hỗ trợ như cho vay không cần tài sản đảm bảo đến 70% giá trị dự án đối với nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn.
Tuy nhiên, như bà Hoàng Thu Trang, chuyên gia tư vấn độc lập, đại diện nhóm nghiên cứu, nhận định: “Doanh nghiệp có chứng nhận trong nước hay quốc tế về nông nghiệp bền vững vẫn khó ‘qua cửa’ ngân hàng”. Nguyên nhân là bởi các tiêu chí xét duyệt không chỉ dừng ở chứng nhận mà còn bao gồm tài sản đảm bảo, vốn đối ứng và phương án kinh doanh.
Không chỉ doanh nghiệp gặp khó, chính các ngân hàng cũng đối mặt với nhiều thách thức. Việc thiếu một danh mục phân loại xanh thống nhất khiến cán bộ tín dụng phải tự đánh giá dự án có “xanh” hay không. Năng lực thẩm định rủi ro môi trường - xã hội còn hạn chế, trong khi các yêu cầu từ chính sách lại khó lượng hóa và tích hợp vào mô hình tín dụng. Bên cạnh đó, việc thiếu dữ liệu ESG (kinh tế - xã hội - quản trị) chuẩn hóa khiến quá trình thẩm định và giám sát sau cho vay gặp nhiều khó khăn, tạo thành một vòng luẩn quẩn.
Một đại diện ngân hàng cho biết, ngay cả khi doanh nghiệp có chứng nhận quốc tế, cán bộ tín dụng vẫn có thể không chấp thuận do không hiểu rõ tiêu chuẩn đó. “Khi họ có chứng chỉ quốc tế về chất lượng sản phẩm, làm thế nào đồng bộ hóa quy chuẩn quốc tế với chuẩn Việt Nam?”, vị này đặt vấn đề.

Trước những rào cản hiện hữu, yêu cầu đặt ra là cần có các giải pháp mang tính hệ thống để thu hẹp khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn. Theo các chuyên gia, việc tăng cường phối hợp liên ngành là yếu tố then chốt nhằm đảm bảo tính thống nhất trong xây dựng và triển khai chính sách ESG và tài chính xanh.
Bà Hoàng Thu Trang đề xuất, ở cấp địa phương cần thúc đẩy các mô hình liên kết chuỗi giá trị có tích hợp ESG, đồng thời hỗ trợ xác nhận vùng nguyên liệu và giám sát tuân thủ. Về phía ngân hàng, cần phát triển các sản phẩm tín dụng xanh gắn với tài chính toàn diện, phù hợp hơn với đặc thù của nông nghiệp và năng lực của doanh nghiệp nhỏ.
Ngoài ra, việc giảm phụ thuộc vào tài sản thế chấp, tăng cường các công cụ tài chính cho đổi mới sáng tạo và đầu tư tác động cũng được xem là hướng đi quan trọng. Đặc biệt, cần thu hút thêm các quỹ đầu tư mạo hiểm và nhà đầu tư thiên thần, bởi hiện nay nhiều quỹ vẫn đặt ra yêu cầu quy mô vốn vượt quá khả năng của doanh nghiệp nhỏ.

Tiến sĩ Bùi Thanh Minh, Phó giám đốc Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân, nhấn mạnh một trong những rào cản lớn nhất là thiếu “ngôn ngữ chung” giữa ngân hàng và doanh nghiệp. “Để giải quyết thách thức này, cần tiếp cận theo hướng hệ sinh thái, trong đó các chính sách, công cụ tài chính và tiêu chuẩn được thiết kế và vận hành đồng bộ”, ông nói. Đồng thời, việc lan tỏa các mô hình thực hành tốt cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng niềm tin và thúc đẩy chuyển đổi.
Một điểm đáng chú ý khác là hệ thống phân loại xanh cần được “hạ độ cao”, trở nên dễ hiểu và gần gũi hơn với doanh nghiệp nhỏ và người nông dân. Như cách ví von của các chuyên gia, ngôn ngữ chính sách cần “như lời bà ngoại” đơn giản, dễ hiểu nhưng đủ cụ thể để áp dụng.
Trong bối cảnh nhu cầu tài chính bền vững trong nông nghiệp được dự báo sẽ gia tăng mạnh trong 1-3 năm tới, đặc biệt ở các lĩnh vực như canh tác bền vững, kinh tế tuần hoàn hay đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, việc tháo gỡ các nút thắt về vốn là yêu cầu cấp thiết. Nếu không, một bộ phận lớn doanh nghiệp nhỏ và hợp tác xã sẽ tiếp tục đứng ngoài cuộc chơi, dù chính họ là những mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị nông nghiệp xanh.
Rõ ràng, tài chính xanh đang mở ra một cánh cửa mới cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhưng để cánh cửa này thực sự rộng mở, cần nhiều hơn những chính sách trên giấy. đó là sự đồng bộ trong thực thi, sự linh hoạt trong thiết kế công cụ tài chính và quan trọng nhất là khả năng “dịch” chính sách thành hành động cụ thể, phù hợp với thực tiễn doanh nghiệp.
Trần Huyền