
Nợ xấu gia tăng, bộ đệm “mỏng” đi
Bức tranh chất lượng tài sản của ngành ngân hàng trong 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục cho thấy những tín hiệu đáng chú ý khi nợ xấu gia tăng, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu suy giảm tại nhiều ngân hàng.
Dữ liệu tổng hợp từ báo cáo tài chính của 27 ngân hàng niêm yết và đăng ký giao dịch ghi nhận tổng số dư nợ xấu (nợ nhóm 3-5) tính đến ngày 30/6/2026 đạt hơn 310.000 tỷ đồng, tăng gần 48.000 tỷ đồng so với cuối năm 2025 (tương đương tăng khoảng 18%).
Tỷ lệ nợ xấu bình quân của 27 ngân hàng theo đó cũng tăng từ mức 1,85% vào cuối năm 2025 lên 2,01% vào cuối tháng quý II/2026 - mức tăng cao nhất của quý II kể từ năm 2020.
Đáng chú ý, bức tranh nợ xấu tiếp tục xấu trên diện rộng, khi có tới 24/27 ngân hàng niêm yết ghi nhận nợ xấu tăng so với cuối năm 2025.

Xét về quy mô tuyệt đối, Sacombank tiếp tục là ngân hàng có lượng nợ xấu lớn nhất hệ thống với gần 48.000 tỷ đồng, tăng 19% so với cuối năm 2025, trong đó, nợ nghi ngờ (nợ nhóm 4) tăng mạnh từ 3.310 tỷ đồng, lên 8.483 tỷ đồng và nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5) cũng tăng từ 29.906 tỷ lên gần 32.274 tỷ.
Tiếp theo là BIDV với hơn 45.700 tỷ đồng nợ xấu, tăng 31% so với đầu năm; VPBank với hơn 38.000 tỷ đồng, tăng 21%; VietinBank với hơn 25.000 tỷ đồng, tăng 14%.
Ngoài ra, nhóm ngân hàng có nợ xấu trên 10.000 tỷ đồng còn có HDBank với gần 18.400 tỷ đồng nợ xấu (tăng 38%); MB với gần 17.800 tỷ đồng (tăng 27%); SHB gần 13.700 tỷ đồng (tăng 5%); VIB hơn 11.600 tỷ đồng (tăng 2%); Vietcombank hơn 10.700 tỷ (tăng 11%).
Xét về tốc độ, ABBank dẫn đầu với dư nợ xấu tăng tới 62% chỉ sau 6 tháng, từ 997 tỷ đồng lên 1.615 tỷ đồng. Theo sau là TPBank với mức tăng 59%, HDBank tăng 38%, BIDV tăng 31%, PGBank và MB lần lượt tăng 30% và 27%.
Ở chiều ngược lại, chỉ 3/27 ngân hàng ghi nhận quy mô nợ xấu giảm so với đầu năm, gồm VietBank giảm 27%, Nam A Bank giảm 24% và Saigonbank giảm nhẹ 1%. Tuy nhiên, mức giảm tại các ngân hàng này không đủ bù đắp đà gia tăng của phần lớn nhà băng còn lại, khiến tổng nợ xấu toàn hệ thống tiếp tục gia tăng.
Xét theo tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay, Sacombank tiếp tục là quán quân với 7,54% (tăng thêm 1,13% so với cuối năm 2025), theo sau là NCB với tỷ lệ nợ xấu là 6,43% (giảm 2,2%), OCB với 3,64% (tăng 0,25%), BVBank với 3,30% (tăng 0,20%), VPBank với 3,28% (giảm 0,05%) và Eximbank 3,08% (tăng 0,22%).
Trong khi đó, Vietcombank tiếp tục là ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất hệ thống (0,61%), tiếp đến là ACB (1,03%), Techcombank (1,08%), Bac A Bank (1,13%) và VietinBank (1,20%)…

Ngược lại với xu hướng gia tăng của nợ xấu toàn ngành, “bộ đệm” dự phòng của nhiều ngân hàng lại có dấu hiệu “mỏng” đi và tiếp tục phân hóa mạnh.
Theo số liệu của SSI Research, đến cuối quý II/2026 tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) của các ngân hàng tiếp tục giảm xuống mức 83%, từ mức 86% trong quý I/2026 và 95% trong quý II/2025.
Đồng thời, trích lập dự phòng tại các nhóm ngân hàng cũng ghi nhận sự phân hóa. Trong khi các NHTM Nhà nước giảm trích lập dự phòng 26% so với quý trước, thì nhóm NHTM tư nhân lại tăng mạnh trích lập 33% so với quý trước, chủ yếu đến từ Sacombank (tăng 152% so với quý trước), HDBank (tăng 104% so với quý trước), OCB (tăng 85% so với quý trước) và ACB (tăng 55% so với quý trước).
Đáng chú ý, đến cuối quý II/2026, chỉ có 5 ngân hàng ghi nhận tỷ lệ bao phủ nợ xấu trên 100%. Trong đó, Vietcombank tiếp tục duy trì vị trí dẫn đầu hệ thống với tỷ lệ bao phủ nợ xấu ở mức 279%, tiếp đến là Bac A Bank (135%), VietinBank (134%), Techcombank (126%) và ACB (105%).
Bên cạnh một số ngân hàng có sự cải thiện tỷ lệ bao phủ nợ xấu tốt hơn như VietABank (100%), KienlongBank (91%) hoặc đi ngang như MB (94%), thì phần lớn các ngân hàng còn lại chứng kiến tỷ lệ bao phủ sụt giảm đáng kể. Trong đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của BIDV giảm xuống 76%, TPBank và LPBank cùng giảm về 67%; Eximbank giảm còn 32%.
Một số ngân hàng tiếp tục duy trì tỷ lệ bao phủ ở mức thấp như NCB (19%), Saigonbank (36%), BVBank và PGBank (cùng 43%), VIB (44%), HDBank (50%), MSB (52%), VPBank và Sacombank (cùng 57%).
Trích lập dự phòng gây áp lực lên lợi nhuận nửa cuối năm
Trong báo cáo mới đây, Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) nhận định, áp lực trích lập dự phòng sẽ gia tăng trong nửa cuối năm 2026 và trở thành rủi ro lớn nhất đối với tăng trưởng lợi nhuận của ngành, đặc biệt tại các ngân hàng có tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) dưới 60%.
VDSC cho rằng có ba biến số cần theo dõi trong các quý tới gồm tốc độ hình thành nợ nhóm 2 có chững lại khi mặt bằng lãi suất tạo đỉnh hay không; khả năng duy trì nguồn thu hồi nợ ngoại bảng trong bối cảnh thanh khoản thị trường bất động sản hạ nhiệt; và tiến độ củng cố bộ đệm dự phòng tại các ngân hàng có lượng nợ xấu hình thành ròng lớn.
Trong khi đó, SSI Research duy trì quan điểm thận trọng đối với chất lượng tài sản của ngành ngân hàng trong nửa cuối năm 2026. Với mặt bằng lãi suất cho vay vẫn ở mức cao 12-15%, đặc biệt ở phân khúc vay mua nhà, và khả năng vỡ nợ chéo giữa các tổ chức tín dụng thông qua dữ liệu CIC trong những quý tới.
Bên cạnh đó, công ty chứng khoán này lưu ý, đà phục hồi biên lãi ròng (NIM) cũng sẽ cần được theo dõi trong nửa cuối năm 2026 khi chi phí vốn điều chỉnh tăng mạnh hơn. Mặc dù điều kiện thanh khoản cải thiện trong quý II, nhu cầu về nguồn vốn trung và dài hạn dự kiến vẫn ở mức cao, do bước vào giai đoạn đầu tư tiếp theo của các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia và khoảng cách tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động.
Về lợi nhuận, SSI Research kỳ vọng lợi nhuận ngành ngân hàng sẽ tăng trong nửa cuối năm. Tuy nhiên, mức độ phân hóa giữa các ngân hàng sẽ rõ hơn, phụ thuộc vào sức mạnh nguồn vốn, chất lượng tài sản và khả năng trích lập dự phòng của từng nhà băng.