Có một loại ô nhiễm không tạo thành những dòng nước đen, không chất thành núi rác và nhiều khi cũng không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Nhưng mỗi ngày, nó đi vào cơ thể qua từng nhịp thở. Khi bụi mịn PM2.5 trở thành chất ô nhiễm chủ đạo tại Hà Nội, khoảng một phần ba số ngày trong năm có nồng độ vượt giới hạn trung bình 24 giờ theo quy chuẩn được dẫn tại hội thảo, câu chuyện không khí sạch đã vượt khỏi phạm vi của ngành môi trường. Đó đồng thời là bài toán sức khỏe cộng đồng, giao thông, xây dựng, công nghiệp, năng lượng và chất lượng sống của một đô thị đang phát triển.
Hội thảo “Khắc phục ô nhiễm và cải thiện chất lượng không khí tại Việt Nam - từ chính sách đến hành động” ngày 29/9 đặt ra một yêu cầu rõ ràng: đã đến lúc những mục tiêu trên văn bản phải được chuyển thành những thay đổi có thể đo đếm bằng chính bầu không khí người dân hít thở mỗi ngày.
Mùa thu vốn được xem là một trong những khoảng thời gian đẹp nhất của Hà Nội. Nhưng vài năm trở lại đây, thời điểm giao mùa cũng dần mang theo một tín hiệu khác. Những buổi sáng trời lặng gió, lớp mờ đục phủ lên các tòa nhà, tầm nhìn giảm xuống và chỉ số chất lượng không khí trở thành thông tin được nhiều người kiểm tra trước khi bước ra đường.
Đó không còn là một hiện tượng bất thường xuất hiện trong vài ngày.

Theo thông tin được đưa ra tại hội thảo ngày 29/9, bụi mịn PM2.5 là chất ô nhiễm chính tại Hà Nội. Nồng độ PM2.5 trung bình năm trong giai đoạn 2023-2025 ở mức khoảng 47-48 µg/Nm³. Khoảng một phần ba số ngày trong năm vượt giới hạn trung bình 24 giờ 50 µg/Nm³ được dẫn theo QCVN 05:2023/BTNMT. Giai đoạn từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau cũng được xác định là thời kỳ ô nhiễm thường diễn biến đáng chú ý hơn.
Những con số tưởng như rất nhỏ khi được tính bằng microgam trên mỗi mét khối không khí lại mang theo một gánh nặng rất lớn.
Tại hội thảo, bà Lê Thái Hà, Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế, cho biết ô nhiễm không khí đứng thứ ba trong các yếu tố nguy cơ gây tử vong hàng đầu tại Việt Nam, sau tăng huyết áp tâm thu và thuốc lá. Dữ liệu được trình bày cũng cho thấy khi nồng độ PM2.5 tăng thêm 10 µg/m³, tỷ lệ nhập viện do viêm phổi, viêm phế quản và hen suyễn ở trẻ em tăng khoảng 3,5-5,2%.

Bởi vậy, ô nhiễm không khí không chỉ là câu chuyện bầu trời hôm nay có xanh hay không.
Phía sau lớp bụi lơ lửng trên thành phố là những lá phổi phải làm việc nhiều hơn, những trẻ em nhạy cảm hơn với bệnh đường hô hấp, những người cao tuổi phải hạn chế ra ngoài trong ngày ô nhiễm và những chi phí y tế, năng suất lao động mà xã hội phải âm thầm gánh chịu.
Chính tại điểm giao nhau giữa môi trường và sức khỏe, sáng 29/9 tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Y tế, WHO và UNDP tổ chức Hội thảo “Khắc phục ô nhiễm và cải thiện chất lượng không khí tại Việt Nam - từ chính sách đến hành động”. Sự kiện diễn ra khi Việt Nam đang triển khai kế hoạch hành động về kiểm soát ô nhiễm không khí giai đoạn 2026-2030, với yêu cầu chuyển những mục tiêu chính sách thành kết quả có thể đo lường.
Và câu hỏi lớn nhất được đặt ra không còn là: Không khí đang ô nhiễm đến đâu?
Mà là: Phải làm gì để những đô thị Việt Nam thực sự có nhiều ngày trời xanh hơn?

Ô nhiễm không khí có một đặc điểm khiến việc kiểm soát phức tạp hơn nhiều loại ô nhiễm khác: Nó không có một nguồn phát duy nhất.
Một con đường đông phương tiện có thể phát sinh khí thải từ động cơ và bụi đường. Một công trường đang thi công có thể đưa lượng lớn bụi vào không khí. Hoạt động sản xuất công nghiệp, đốt rác, đốt phụ phẩm nông nghiệp ở khu vực ngoại thành hay những chất ô nhiễm từ địa phương lân cận đều có thể góp phần hình thành lớp bụi bao phủ đô thị.
Kết quả kiểm kê được trình bày tại hội thảo cho thấy cơ cấu nguồn đóng góp vào ô nhiễm không khí Hà Nội rất đa dạng. Giao thông vận tải chiếm khoảng 23%, xây dựng và bụi đường khoảng 20%, công nghiệp 10%, hoạt động đốt mở như đốt rác và phụ phẩm nông nghiệp khoảng 12%. Đáng chú ý, bụi thứ cấp hình thành trong khí quyển từ các tiền chất ô nhiễm được xác định đóng góp khoảng 27%; phần còn lại đến từ các nguồn khác.
Những tỷ lệ này cho thấy vì sao không thể tìm một “thủ phạm duy nhất” rồi kỳ vọng chất lượng không khí sẽ được giải quyết.

Nếu chỉ kiểm soát phương tiện giao thông nhưng công trường vẫn phát tán bụi, hoạt động đốt mở vẫn diễn ra và nguồn công nghiệp chưa được quản lý hiệu quả, kết quả cải thiện sẽ bị giới hạn. Ngược lại, kiểm soát chặt các nhà máy nhưng bỏ qua giao thông, xây dựng và những nguồn phát tán phân tán trong khu dân cư cũng khó tạo ra thay đổi đủ lớn.
Thậm chí, lượng bụi người dân hít thở tại một địa điểm không nhất thiết chỉ được tạo ra tại chính nơi đó.
Không khí liên tục chuyển động. Các chất ô nhiễm có thể phát tán và biến đổi trong khí quyển trước khi đi hàng chục, thậm chí hàng trăm kilomet. Bởi vậy, quản lý chất lượng không khí không thể bị giới hạn bởi địa giới hành chính của một quận, một thành phố hay một tỉnh.
Đây chính là lý do kiểm kê phát thải và xác định nguồn ô nhiễm trở nên đặc biệt quan trọng.
Theo số liệu được dẫn tại hội thảo, kết quả kiểm kê giai đoạn 2023-2025 ghi nhận lượng phát thải PM2.5 khoảng 24.169 tấn/năm, PM10 khoảng 30.072 tấn/năm, trong khi CO khoảng 526.264 tấn/năm trong phạm vi nghiên cứu được trình bày. Những dữ liệu như vậy không đơn thuần nhằm mô tả quy mô ô nhiễm, mà là cơ sở để xác định cần ưu tiên giảm phát thải ở đâu và bằng biện pháp nào.
Một chính sách kiểm soát ô nhiễm chỉ thực sự hiệu quả khi trả lời được ba câu hỏi: Chất ô nhiễm đến từ đâu? Nguồn nào đóng góp nhiều nhất? Và giảm phát thải tại nguồn nào sẽ tạo ra hiệu quả lớn nhất với chi phí hợp lý nhất?
Đó cũng là sự thay đổi quan trọng trong cách quản lý chất lượng không khí: chuyển từ phản ứng khi AQI đã chuyển màu đỏ sang chủ động quản lý nguồn phát thải trước khi ô nhiễm hình thành.

Nếu chỉ nhìn vào lớp mờ phủ trên đường chân trời, rất dễ coi ô nhiễm không khí là một vấn đề cảnh quan đô thị. Nhưng tác động nghiêm trọng hơn lại diễn ra ở nơi mắt thường không thể quan sát.
PM2.5 có kích thước rất nhỏ. Chính đặc tính này khiến bụi mịn trở thành một trong những thành phần ô nhiễm được ngành y tế đặc biệt quan tâm.

WHO và UNDP nhận định ô nhiễm không khí vẫn là một trong những thách thức môi trường và sức khỏe cộng đồng lớn nhất của Việt Nam. Không khí ô nhiễm góp phần gây bệnh và tử vong sớm, đồng thời làm giảm năng suất và tạo thêm chi phí cho gia đình, cộng đồng cũng như nền kinh tế.
Dữ liệu được trình bày tại hội thảo ngày 29/9 càng làm rõ hơn mối liên hệ này.
Theo đại diện Bộ Y tế, dữ liệu năm 2019 tại 11 tỉnh, thành phố ghi nhận số ca tử vong được quy cho phơi nhiễm PM2.5 dao động từ 222 đến 5.090 ca, trong đó gánh nặng cao được ghi nhận tại Hà Nội và TP.HCM. Cũng theo dữ liệu được trình bày, số năm sống bị mất do ô nhiễm không khí ở cấp tỉnh dao động khoảng 986-2.289 năm trên 100.000 dân.
Những con số này cần được hiểu đúng là dữ liệu nghiên cứu của năm 2019 được trình bày tại hội thảo, không phải thống kê số người tử vong do ô nhiễm không khí trong năm 2026.
Nhưng chúng cho thấy một vấn đề rộng hơn: tác động của ô nhiễm không khí không phân bổ đồng đều trong cộng đồng.

Trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ mang thai và những người mắc bệnh tim mạch, hô hấp thường dễ bị ảnh hưởng hơn. Khi xuất hiện một đợt ô nhiễm nghiêm trọng, lời khuyên “hạn chế ra ngoài” có thể giúp giảm phơi nhiễm tức thời, nhưng không thể là giải pháp lâu dài cho một đô thị hàng triệu dân.
Một thành phố không thể giải quyết vấn đề không khí bằng cách yêu cầu người dân đóng cửa ở trong nhà.
Bởi vậy, dữ liệu môi trường cần được kết nối chặt hơn với dữ liệu y tế. WHO và UNDP đang hỗ trợ Việt Nam tăng cường bằng chứng về tác động sức khỏe, xây dựng kiểm kê phát thải quốc gia, thúc đẩy tích hợp dữ liệu môi trường - y tế và cải thiện truyền thông rủi ro. Khi hai hệ thống dữ liệu được kết nối, cảnh báo chất lượng không khí có thể đi xa hơn một con số AQI đơn thuần để trở thành công cụ bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Chẳng hạn, khi một đợt PM2.5 cao được dự báo kéo dài, cơ quan y tế có thể chủ động xác định nhóm nguy cơ, bệnh viện chuẩn bị nguồn lực, trường học điều chỉnh hoạt động ngoài trời và người dân nhận được hướng dẫn cụ thể.
Ở đó, quan trắc môi trường không còn chỉ phục vụ ngành môi trường. Nó trở thành một phần của hệ thống y tế dự phòng của đô thị.
“Khi tôi lái xe vào Lebanon, xuyên qua đám không khí đầy khói bụi khiến tôi ám ảnh mãi. Vấn đề ô nhiễm không khí là một trong những chủ đề, nội dung thảo luận nhiều nhất hiện nay và có rất nhiều nghiên cứu về nội dung này. Chất lượng không khí tại Hà Nội giảm 7%; TP.HCM giảm 3% trong những năm qua. Chúng ta có thể thấy nó là con số nhỏ nhưng thực chất nó là rất lớn. Tôi ghi nhận và đánh giá cao các cam kết của Chính phủ Việt Nam về cải thiện chất lượng không khí. Cần củng cố cơ sở nghiên cứu khoa học, cải thiện công tác nghiên cứu và dự báo… Không khí chính là sự sống”, Trưởng đại diện UNDP tại Việt Nam chia sẻ.
Mới đây nhất, WHO và UNDP đã đồng hành cùng đoàn cán bộ cấp cao của Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương dẫn đầu trong chuyến thăm Bắc Kinh, nơi cho thấy những cải thiện bền vững về chất lượng không khí có thể đạt được thông qua hành động phối hợp và lâu dài.
Quản trị hiệu quả, các mục tiêu rõ ràng, tăng cường quan trắc và dự báo, sử dụng các nền tảng dữ liệu tích hợp để phục vụ hoạch định chính sách và các biện pháp giảm thiểu theo thời gian thực, kiểm soát phát thải và đầu tư liên tục đã góp phần giảm mức độ ô nhiễm nghiêm trọng của thành phố, đồng thời gia tăng số ngày ‘bầu trời xanh’.
Theo tiêu chuẩn chất lượng không khí quốc gia của Trung Quốc, khoảng 85% số ngày trong năm 2025 đạt chất lượng không khí tốt. Bài học rõ ràng là những cải thiện đầy tham vọng về chất lượng không khí có thể đạt được khi cam kết chính trị đi đôi với hành động dựa trên bằng chứng và thực hiện nhất quán.
Việt Nam đã xây dựng được những nền tảng quan trọng. Các hệ thống quan trắc chất lượng không khí đang được mở rộng. Các nhà hoạch định chính sách đang dựa trên nguồn bằng chứng khoa học ngày càng phong phú để ra quyết định. Những công nghệ mới, bao gồm các công cụ số và trí tuệ nhân tạo, mở ra cơ hội để hiểu rõ hơn các nguồn gây ô nhiễm, cải thiện công tác dự báo và hỗ trợ các biện pháp can thiệp có trọng tâm.

Việt Nam không bắt đầu cuộc chiến với ô nhiễm không khí từ con số không.
Hệ thống quan trắc đang được mở rộng, cơ sở dữ liệu khoa học ngày càng nhiều hơn và các công cụ số, trí tuệ nhân tạo mở ra khả năng xác định nguồn ô nhiễm, dự báo diễn biến và đưa ra biện pháp ứng phó chính xác hơn. WHO và UNDP đánh giá đây là những nền tảng quan trọng để chuyển từ nhận diện vấn đề sang quản lý dựa trên bằng chứng.
Nhưng công nghệ quan trắc dù hiện đại đến đâu cũng chỉ giúp nhìn rõ vấn đề. Muốn bầu không khí thay đổi, phát thải vẫn phải được cắt giảm ngay từ nguồn.
Ông Lê Hoài Nam, Phó Cục trưởng Cục Môi trường, nhấn mạnh tại hội thảo rằng hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước là yếu tố then chốt. Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành và địa phương triển khai các nhóm giải pháp từ chính sách, quy chuẩn đến công nghệ, đồng thời tăng kiểm soát nguồn thải và hợp tác liên vùng.
Với giao thông, bài toán không chỉ là kiểm soát khí thải từng phương tiện mà còn liên quan đến cấu trúc di chuyển của cả thành phố. Giao thông công cộng thuận tiện hơn, phương tiện phát thải thấp, hạ tầng cho xe điện và cách tổ chức đô thị giảm nhu cầu sử dụng phương tiện cá nhân đều có thể tác động tới lượng phát thải trong dài hạn.

Với xây dựng, những yêu cầu tưởng nhỏ như che chắn công trường, rửa xe trước khi ra đường, kiểm soát vật liệu rơi vãi và giảm bụi từ mặt đường lại có thể tạo ra tác động trực tiếp tại khu dân cư. Các quy định về giám sát và hạn chế phát thải bụi từ hoạt động xây dựng đang được đặt ra như một phần của giải pháp kiểm soát nguồn ô nhiễm đô thị.
Với hoạt động đốt mở, bài toán lại liên quan tới quản lý chất thải và hành vi cộng đồng. WHO và UNDP đang cùng các đối tác triển khai sáng kiến “Thành phố có thể hít thở” tại Hà Nội, trong đó có nội dung huy động người dân tham gia giảm tình trạng đốt rác ngoài trời.
Còn với công nghiệp và nguồn ô nhiễm liên tỉnh, yêu cầu quản lý phức tạp hơn. Các chất ô nhiễm không dừng lại khi đi qua một tấm biển địa giới, vì vậy cơ chế chia sẻ dữ liệu, kiểm kê nguồn thải và phối hợp giữa các địa phương phải trở thành một phần của quản trị chất lượng không khí.
Một công cụ khác đang được đặt nhiều kỳ vọng là vùng phát thải thấp.
Các quy định mới bổ sung nguyên tắc, tiêu chí thiết lập vùng phát thải thấp, biện pháp kiểm soát phát thải cũng như trách nhiệm quản lý. Nếu được triển khai dựa trên dữ liệu và có lộ trình phù hợp, đây có thể trở thành cách để các đô thị tập trung nguồn lực vào những khu vực có mật độ dân cư cao và mức độ phơi nhiễm lớn.
Nhưng tất cả những giải pháp ấy chỉ có ý nghĩa khi chúng được đặt trong một kế hoạch đủ dài và được thực hiện liên tục.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy cải thiện chất lượng không khí hiếm khi đến từ một chiến dịch kéo dài vài tháng. WHO và UNDP dẫn trường hợp Bắc Kinh, nơi các biện pháp quản trị mạnh, mục tiêu rõ ràng, hệ thống quan trắc - dự báo tốt hơn, nền tảng dữ liệu tích hợp, kiểm soát phát thải và đầu tư kéo dài đã giúp cải thiện đáng kể tình trạng ô nhiễm. Theo nguồn này, khoảng 85% số ngày của năm 2025 đạt chất lượng không khí tốt theo tiêu chuẩn quốc gia của Trung Quốc.
Bài học quan trọng không nằm ở việc sao chép một mô hình. Nó nằm ở tính liên tục.
Không khí không thể sạch lên chỉ bằng những đợt cao điểm kiểm tra công trường hay xử lý xe phát thải. Nếu nguồn thải quay trở lại ngay sau khi chiến dịch kết thúc, chất lượng không khí cũng sẽ quay về điểm xuất phát.

Điểm khác biệt đáng chú ý của giai đoạn hiện nay là Việt Nam đã bắt đầu đặt những mục tiêu có thể đo lường.
Theo WHO và UNDP, kế hoạch hành động quốc gia giai đoạn 2026-2030 đặt mục tiêu tại Hà Nội, nồng độ PM2.5 trung bình năm đến năm 2030 cần giảm 20% so với năm 2024. Đồng thời, mục tiêu được đặt ra là ít nhất 80% số ngày trong năm đạt chất lượng không khí ở mức tốt hoặc trung bình theo chuẩn quốc gia.
Ý nghĩa của những con số này không chỉ nằm ở việc có thêm một chỉ tiêu để báo cáo. Nó thay đổi cách đánh giá hiệu quả chính sách.
Thành công không còn được đo bằng số văn bản đã ban hành, số cuộc kiểm tra đã thực hiện hay số trạm quan trắc được lắp đặt. Kết quả cuối cùng phải được thể hiện bằng nồng độ chất ô nhiễm giảm xuống, số ngày ô nhiễm nghiêm trọng ít đi và số ngày người dân được hít thở không khí tốt tăng lên.
Đó cũng là tinh thần quan trọng của Hội thảo ngày 29/9: Từ chính sách đến hành động.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên kêu gọi sự phối hợp của các bộ, ngành, địa phương, tổ chức quốc tế, chuyên gia và nhà khoa học trong quá trình thực hiện các giải pháp khắc phục ô nhiễm không khí. Bởi không một cơ quan riêng lẻ nào có thể kiểm soát đồng thời giao thông, công nghiệp, xây dựng, y tế, năng lượng, chất thải và quy hoạch đô thị.

Doanh nghiệp cũng phải trở thành một phần của quá trình này thông qua đầu tư công nghệ sạch hơn, kiểm soát phát thải và minh bạch dữ liệu môi trường. Các trường đại học, viện nghiên cứu cần cung cấp bằng chứng khoa học. Người dân vừa là đối tượng cần được bảo vệ, vừa có thể tham gia phát hiện nguồn ô nhiễm, thay đổi hành vi đốt rác và lựa chọn những hình thức di chuyển ít phát thải hơn.
Ở tầng sâu hơn, chất lượng không khí cần trở thành một tiêu chí của chính quá trình phát triển đô thị.
Một đô thị có thể tăng trưởng rất nhanh về GDP, có thêm đường cao tốc, khu đô thị và những tòa nhà mới. Nhưng nếu cư dân phải thường xuyên đóng cửa vì bụi mịn, trẻ em không thể vui chơi ngoài trời trong những ngày ô nhiễm và người cao tuổi phải theo dõi AQI trước mỗi lần ra khỏi nhà, chất lượng của quá trình phát triển ấy cần được nhìn nhận đầy đủ hơn.
Không khí sạch, vì thế, không phải phần thưởng đến sau tăng trưởng. Nó phải trở thành một cấu phần của tăng trưởng.
WHO và UNDP đã đưa ra một cách nhìn đáng chú ý: không khí sạch hơn không chỉ là mục tiêu môi trường mà còn là khoản đầu tư cho sức khỏe tốt hơn, tăng trưởng kinh tế, năng suất và phát triển bền vững.
Và có lẽ đây cũng là cách thích hợp để nhìn về cuộc chiến chống ô nhiễm không khí tại những thành phố Việt Nam.
Cuộc chiến vì không khí sạch không thể chỉ dựa vào nỗ lực của Chính phủ. Đó là trách nhiệm toàn xã hội: doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch, người dân tham gia giám sát nguồn thải, còn các cơ sở nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học cho chính sách. Không khí sạch không chỉ là mục tiêu môi trường mà chính là khoản đầu tư lâu dài cho sức khỏe, kinh tế và sự phát triển bền vững.
Chúng ta có thể đo PM2.5 bằng microgam trên mét khối, đo phát thải bằng tấn mỗi năm và theo dõi chất lượng không khí bằng những con số AQI thay đổi từng giờ. Nhưng với người dân, kết quả cuối cùng của tất cả chính sách lại được cảm nhận bằng những điều rất bình thường: một buổi sáng nhìn rõ bầu trời, một đứa trẻ có thể chạy ngoài sân trường, một người già có thể đi bộ trong công viên mà không phải lo lắng về lớp bụi vô hình đang đi vào phổi.
Từ chính sách đến hành động, khoảng cách ấy chỉ thực sự được thu hẹp khi những mục tiêu trên giấy biến thành nhiều ngày trời xanh hơn. Và trong một đô thị hiện đại, quyền được hít thở không khí sạch không nên là điều người dân phải chờ đợi vào một ngày thời tiết thuận lợi.

Hoàng Việt