
Hàng hóa Việt Nam chịu thuế bổ sung 12,5% từ ngày 24/7
Ngay trước thời điểm các biện pháp thuế mới có hiệu lực, Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) đã công bố kết luận cuối cùng của cuộc điều tra theo Mục 301 Đạo luật Thương mại năm 1974 đối với 60 nền kinh tế liên quan đến chính sách về hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức. Theo thông báo, các mức thuế bổ sung sẽ chính thức áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ từ 0 giờ 01 phút ngày 24/7/2026 (giờ miền Đông Hoa Kỳ), trong đó Việt Nam thuộc nhóm chịu mức thuế bổ sung 12,5%.
Cuộc điều tra được USTR khởi xướng từ tháng 3/2026. Trong kết luận cuối cùng, cơ quan này giữ nguyên quan điểm như ở báo cáo sơ bộ khi cho rằng cả 60 nền kinh tế bị điều tra đều chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về phòng, chống lao động cưỡng bức theo cách đánh giá của Hoa Kỳ, dù mức độ khác nhau.
Trên cơ sở đó, Tổng thống Donald Trump đã chỉ đạo USTR triển khai các biện pháp thuế đối với các nền kinh tế liên quan, phạm vi áp dụng chiếm khoảng 99,4% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu vào Hoa Kỳ. Theo quyết định được công bố, các mức thuế được chia thành ba nhóm. Nhóm thứ nhất gồm 17 nền kinh tế chịu thuế bổ sung 10%, trong đó có Canada, Mexico, Malaysia, Indonesia, Bangladesh và Vương quốc Anh.
Nhóm thứ hai áp dụng cơ chế kết hợp giữa thuế tối huệ quốc (MFN) và thuế bổ sung theo Mục 301. Theo đó, tổng mức thuế là 10% đối với Liên minh châu Âu (EU) và Đài Loan (Trung Quốc), trong khi Nhật Bản, Hàn Quốc và Thụy Sỹ chịu tổng mức 12,5%. Đối với nhóm còn lại, bao gồm Việt Nam, Hoa Kỳ áp dụng mức thuế bổ sung 12,5% đối với toàn bộ hàng hóa, ngoại trừ các mặt hàng thuộc diện miễn trừ theo quy định.
Ngoài việc công bố mức thuế, USTR cũng quy định rõ danh mục các trường hợp không thuộc phạm vi áp dụng. Các mặt hàng được miễn trừ chủ yếu là hàng viện trợ, sản phẩm phục vụ trao đổi thông tin, hàng hóa đang chịu thuế theo Mục 232 như một số sản phẩm thép, nhôm, ô tô và linh kiện ô tô, cùng những nguyên liệu, nông sản hoặc sản phẩm thiết yếu đối với chuỗi cung ứng và nền kinh tế Mỹ.
Riêng ngành dệt may của Bangladesh, Campuchia, Indonesia và Malaysia sẽ được áp dụng cơ chế hạn ngạch thuế quan (TRQ) đặc biệt trong thời gian dự kiến ba năm. Theo cơ chế này, các quốc gia trên có thể xuất khẩu một lượng hàng dệt may nhất định vào Hoa Kỳ mà không phải chịu thuế bổ sung nếu sử dụng nguyên liệu bông và hàng dệt may nhập khẩu từ Mỹ.
Theo quy định của Mục 301, các biện pháp thuế này sẽ tự động hết hiệu lực sau bốn năm nếu không được gia hạn. Tuy nhiên, USTR cũng để ngỏ khả năng sửa đổi hoặc chấm dứt biện pháp khi các điều kiện thực tế thay đổi, trong đó có trường hợp đối tác điều chỉnh chính sách liên quan đến nội dung bị điều tra.
Bộ Công Thương tiếp tục trao đổi với Mỹ về các cam kết của Việt Nam
Theo Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương), cùng với kết luận cuối cùng, USTR đã mở rộng đáng kể danh mục hàng hóa được miễn trừ so với dự thảo trước đó nhằm giảm tác động tiêu cực đối với chuỗi cung ứng cũng như hoạt động sản xuất của Hoa Kỳ.
Những nhóm hàng được miễn áp dụng thuế chủ yếu là nguyên liệu đầu vào có nguy cơ thiếu nguồn cung trong nước, sản phẩm có thể gây gián đoạn chuỗi cung ứng nếu bị đánh thuế, các mặt hàng Mỹ chưa sản xuất hoặc sản xuất không đủ nhu cầu, cùng một số sản phẩm không đáp ứng mục tiêu chính sách nếu áp dụng biện pháp thuế.
Bộ Công Thương cho biết Việt Nam luôn nghiêm cấm mọi hình thức lao động cưỡng bức và thực hiện nghiêm các quy định của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), cũng như các điều ước quốc tế và hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia.
Đáng chú ý, ngày 22/7/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 292/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương, trong đó bổ sung quy định cấm nhập khẩu các sản phẩm được khai thác, sản xuất hoặc chế tạo toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức. Theo Bộ Công Thương, việc ban hành nghị định này thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, đồng thời nâng cao tính minh bạch và phát triển bền vững của chuỗi cung ứng.
Thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành liên quan làm việc với phía Hoa Kỳ nhằm cập nhật việc thực hiện các cam kết cũng như những bước tiến trong hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam về cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức. Đồng thời, Bộ sẽ tăng cường trao đổi với USTR và các cơ quan chức năng của Mỹ để phản ánh đầy đủ những nỗ lực của Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật và thực thi các quy định, qua đó hướng tới việc áp dụng chính sách thuế phù hợp hơn với thực tiễn.
Theo Phòng WTO và Hội nhập, Ban Pháp chế (Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam), từ tháng 3/2026 đến nay, Hoa Kỳ đã tiến hành ba cuộc điều tra theo Mục 301 đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam, gồm các nội dung về lao động cưỡng bức, dư thừa sản xuất và sở hữu trí tuệ.
Ngoài vụ việc về lao động cưỡng bức đã có kết luận cuối cùng, Phòng WTO và Hội nhập, Ban Pháp chế (Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) cho rằng doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ cần tiếp tục theo dõi sát diễn biến của hai cuộc điều tra còn lại liên quan đến dư thừa sản xuất và sở hữu trí tuệ, đồng thời chủ động xây dựng các giải pháp ứng phó nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động xuất khẩu.