
Sinh năm 1973, bà Cao Thị Cảnh phường Bắc Gianh tỉnh Quảng Trị đã biết làm nón từ năm 10 tuổi. Lớn lên cùng tiếng cười nói của những người thợ chằm nón và những buổi quây quần bên vành nón, bà gắn bó với nghề như một phần máu thịt của mình. Hơn 40 năm qua, dù cuộc sống có nhiều đổi thay, bà vẫn kiên trì theo đuổi nghề làm nón lá.
Theo bà Cảnh, trước đây nghề làm nón ở Ba Đồn rất phát triển, nhiều gia đình sống chủ yếu bằng nghề này. Tuy nhiên, những năm gần đây, không ít hộ dân đã bỏ nghề để chuyển sang các công việc khác có thu nhập cao hơn. Riêng gia đình bà vẫn xem làm nón là nghề chính, mang lại nguồn thu nhập ổn định cho cuộc sống.
“Thu nhập từ nghề làm nón chưa cao nhưng so với làm ruộng thì đỡ vất vả hơn nhiều. Quan trọng là có thể làm quanh năm, tận dụng thời gian rảnh rỗi, không phụ thuộc quá nhiều vào thời tiết”, bà Cảnh chia sẻ.
Không chỉ trực tiếp sản xuất nón lá, bà Cảnh còn tham gia truyền dạy nghề cho nhiều địa phương trong tỉnh. Bà thường xuyên được các trung tâm đào tạo nghề mời làm giảng viên truyền nghề tại các xã Quảng Đông, Quảng Phong và các địa phương ở huyện Tuyên Hóa, khu vực Phong Nha... Tuy nhiên, theo chị, chỉ khoảng một phần ba số học viên sau khi được đào tạo tiếp tục gắn bó với nghề.
“Phần lớn người học biết làm nón nhưng không theo nghề lâu dài vì thu nhập chưa thật sự hấp dẫn so với các công việc khác”, bà Cảnh nói.
Điều khiến bà trăn trở nhất hiện nay là sự thiếu vắng lực lượng kế cận. Hiện nay, trên địa bàn Ba Đồn vẫn còn khoảng 150 hộ làm nón, nhưng đa số đều là những người trên 45 tuổi. Đối với nhiều gia đình, làm nón chỉ còn là nghề phụ để tăng thêm thu nhập. Trong khi đó, thế hệ trẻ gần như không còn theo học và gắn bó với nghề truyền thống này.
“Nếu không có những giải pháp phù hợp để bảo tồn và phát triển thì nguy cơ mai một nghề nón lá Ba Đồn là rất lớn”, bà Cảnh bày tỏ.

Một trong những điểm đặc biệt của nghề làm nón là tính linh hoạt. Người làm nghề có thể tranh thủ bất cứ thời gian nào trong ngày để hoàn thiện các công đoạn. Tại gia đình chị Cảnh, nghề nón vẫn được duy trì như một nét sinh hoạt quen thuộc. Ngoài thời gian làm việc ở công ty, con dâu bà về nhà vẫn phụ giúp mẹ chồng làm nón. Những ngày nghỉ hè, các cháu nhỏ cũng tham gia các công đoạn đơn giản để hỗ trợ bà.
Theo bà Cảnh, nghề làm nón không chỉ tạo thêm thu nhập mà còn giúp các thành viên trong gia đình gắn kết hơn. Đây cũng là hoạt động bổ ích để trẻ em có thêm kỹ năng lao động, giảm bớt thời gian dành cho tivi, điện thoại và các thiết bị điện tử.
Nón lá Ba Đồn từ lâu đã nổi tiếng không chỉ trong tỉnh Quảng Bình (cũ) mà còn ở nhiều địa phương trong cả nước. Trong dân gian từng lưu truyền câu nói: “Nón đẹp Ba Đồn, gái xinh Đức Thọ”, đủ để thấy danh tiếng của sản phẩm thủ công này một thời vang xa khắp các tỉnh miền Trung. Những chiếc nón được làm bằng đôi bàn tay khéo léo của người thợ Ba Đồn nổi bật bởi sự cân đối, độ bền và vẻ đẹp tinh tế.
Có thời điểm, nón lá Ba Đồn được tiêu thụ rộng khắp, trở thành nguồn thu nhập quan trọng của hàng trăm hộ dân. Không chỉ là vật dụng che nắng, che mưa, chiếc nón còn mang trong mình giá trị văn hóa và hình ảnh đặc trưng của vùng đất sông Gianh. Đến nay, dù thị trường có nhiều sản phẩm thay thế, nón lá Ba Đồn vẫn giữ được vị trí riêng trong lòng người dân và du khách.

Để nghề nón tồn tại và phát triển trong giai đoạn mới, cần có sự quan tâm nhiều hơn từ các cấp, ngành trong việc xây dựng mô hình sản xuất bài bản, kết nối với du lịch trải nghiệm, quảng bá sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ. Khi nghề truyền thống được tổ chức tốt, không chỉ giúp nâng cao thu nhập cho người dân mà còn góp phần gìn giữ một di sản văn hóa quý giá của địa phương.
Giữa nhịp sống hiện đại, những người thợ vẫn lặng lẽ giữ gìn từng chiếc nón, giữ gìn những giá trị đã gắn bó với quê hương suốt bao thế hệ. Đó không chỉ là sự bền bỉ với một nghề truyền thống mà còn là hành trình gìn giữ hồn cốt văn hóa của vùng đất Ba Đồn cho hôm nay và mai sau.