Những người giữ nghề nón lá trăm năm

Từ đôi bàn tay của những người thợ già ở xã Việt Xuyên (Hà Tĩnh), những chiếc nón lá mộc mạc vẫn đều đặn ra đời suốt hàng chục năm qua. Không chỉ là kế sinh nhai lúc nông nhàn, đó còn là cách họ giữ lại hồn cốt của một làng nghề trăm năm tuổi.
non-5-1778574387.jpg
Những người giữ nghề làm nón lá trăm năm.

Hưng thịnh một thời

Tại xã Việt Xuyên (tỉnh Hà Tĩnh) có một nghề đã có tuổi đời hàng trăng năm và có những giai đoạn phát triển rất hưng thịnh đó là nghề làm nón lá. Theo người dân nơi đây, nghề này cha truyền con nối từ vài thế hệ và được duy trì, tồn tại cho đến ngày nay. Trải qua bao thăng trầm, ngày nay, mặc dù nghề này không còn hưng thịnh như xưa nhưng nhiều người dân nơi đây lưu giữ và duy trì nghề làm nón lá.

Trong căn nhà nhỏ đã cũ, vợ chồng bà Nguyễn Thị Cúc (thôn Thống Nhất, xã Việt Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh) đang miệt mài bên khung nón, mỗi người thực hiện một công đoạn để hoàn thiện từng chiếc nón. Năm nay, cả hai vợ chồng bà đều đã trên 70 tuổi nhưng đã có thâm niên theo nghề làm nón được gần 60 năm.

non-9-1778574406.jpg
Mỗi công đoạn đòi hỏi người làm nghề phải khéo léo, tỉ mỉ ↵

Vừa nhanh tay tuốt lại những chiếc lá để làm nón, bà Cúc vừa chia sẻ: Vợ chồng tôi đều sinh ra ở làng này nên cả hai đều tiếp xúc với nghề làm nón từ nhỏ. Từ nhỏ, chúng tôi đã thấy ông bà làm, sau đó đến bố mẹ làm rồi đến chúng tôi tiếp tục làm và giờ con tôi vẫn tiếp tục làm nón.

Theo người dân xã Việt Xuyên, trước đây nhiều thôn trong xã làm, nhưng ngày nay chỉ ở thôn Thống Nhất là còn nhiều hộ gia đình duy trì nghề làm nón, còn các thôn khác chỉ còn vài hộ và họ không làm thường xuyên.

Trước đây, nhờ làm nón mà người dân có tiền để trang trải cuộc sống, lo cho con cái học hành. Ngày nay, nghề làm nón thu nhập không cao, nhưng nó trở thành ngành nghề phụ lúc nông nhàn, mang lại thu nhập cho gia đình.

non-6-1778574387.jpg
Những chiếc lá dùng để làm nón.

Ông Phan Duy Tịnh chia sẻ: Không ai còn nhớ nghề nón lá du nhập vào làng từ khi nào, họ chỉ nhớ đây là nghề truyền thống của địa phương lưu truyền cả trăm năm. Ngày đó nhà nào cũng nghèo đói, để có tiền mua sách vở, khi đi chăn trâu, tôi cùng các bạn trong làng vẫn thường mang theo đồ nghề để tranh thủ làm nón kiếm thêm thu nhập. Ngày xưa, rừng rú còn nhiều, nguồn nguyên liệu cũng dễ kiếm nên nhà nào làm nón cũng tự đi vào rừng lấy nguyên liệu. Càng ngày, nguồn nguyên liệu càng hiếm và phải đi xa hơn nên chỉ còn một vài người đi lấy về rồi nhập cho các hộ làm nón chúng tôi. Và người làm nón cũng giảm dần.

Theo những “nghệ nhân” làm nón tại đây chia sẻ,  làm nón có nhiều công đoạn như: Làm lá, làm vành, xếp và khâu lá. Để làm được những chiếc nón lá đẹp, bền là cả một nghệ thuật đòi hỏi người làm cần có sự tỉ mỉ, công phu. Lá tơi dùng để làm nón được phơi khô, sau đó sẽ hơ trên nồi than nóng, kéo đi kéo lại, rồi dùng khăn ướt vuốt cho phẳng. Công việc này khá cầu kỳ và cũng là khâu quan trọng, quyết định đến độ bền và tính thẩm mỹ của chiếc nón.

non-2-1778574371.jpg
Công đoạn làm chóp nón.

Vành nón làm bằng cật tre, nứa vót nhỏ và đều khi nối bắt buộc phải tròn và không chắp, không gợn. Mỗi chiếc nón thường có khoảng từ 15 đến 20 vành với kích thước lớn nhỏ khác nhau. Sau khi chuẩn bị xong các vật liệu, người thợ sẽ cho các vành nón vào chiếc khung hình tháp để định hình. Sau đó xếp, xâu lá tơi, lá cọ vào vành nón, rồi dùng sợi cước nhỏ để khâu cố định lại và phủ một lóp dầu để tạo độ bóng và bền cho chiếc nón.

Nghề làm nón không nặng nhọc, nhưng đòi hỏi phải kiên trì, chịu khó, tỉ mỉ, chính vì thế, lao động của nghề nón cũng đa dạng về độ tuổi, từ người già đến trẻ con. Đây cũng là công việc mang lại nguồn thu nhập chính cho người dân nơi đây. Nghề này có thể làm được quanh năm nhưng nhộn nhịp nhất cũng vào mùa nắng nóng. Những chiếc nón lá giúp người dân chống chịu với thời tiết oi bức.

non-1-1778574371.jpg
Sau đó, dàn lá ra thật đều, đẹp.

Ngày nay, nón vẫn được ưa dùng nhưng nhu cầu cũng đã giảm mạnh bởi tốc độ cơ giới hóa trong nông nghiệp ngày càng cao. Hơn nữa, số lao động nông thôn cũng đã giảm đáng kể theo xu hướng chuyển đổi ngành nghề. Do đó, việc sử dụng nón lá trong lao động sản xuất cũng vì thế mà giảm dần. Kéo theo nguồn thu từ nghề làm nón có giảm.

Theo những người làm nón, mỗi ngày, mỗi người chỉ làm được 01 chiếc nón hoàn chỉnh, ai xuất sắc hơn thì làm được 02 cái. Mỗi chiếc nón làm ra được thương lái thu mua trung bình khoảng 40 - 60 ngàn đồng/chiếc. Cũng có những hộ dân họ chỉ làm những chiếc nón do khách đặt riêng, mỗi chiếc nón loại này được bán từ 100 - 150 ngàn đồng. Trung bình một tháng, mỗi người thu nhập khoảng 1 - 3 triệu đồng từ công việc này.

non-8-1778574436.jpg
Và may để cố định lớp vành nón với lớp lá.

Trăn trở giữ nghề truyền thống

Với mong muốn giữ nghề truyền thống, dù thu nhập từ nghề làm nón không bằng nhiều ngành nghề khác nhưng những người dân nơi đây vẫn duy trì nghề làm nón. Bà Nguyễn Thị Vân cho biết: Thời làm nón hưng thịnh của làng vào khoảng vài chục năm về trước, ở làng nhà nhà làm nón, người già, người trẻ cùng nhau ngày đêm đan nón. Ngày ấy, đan nón truyền thống là nghề chính của người dân trong làng. Người trẻ học nghề từ những người già có kinh nghiệm, cả làng khi nào cũng đông vui tấp nập.

Với xu thế phát triển hiện nay, nhu cầu sử dụng nón ngày càng giảm, nguyên vật liệu cũng hạn chế hơn nên nghề làm nón chỉ còn là nghề phụ, thu nhập không cao, lực lượng lao động trẻ không mặn mà với nghề. Họ có xu hướng đi làm ăn xa, làm công nhân để phát triển kinh tế gia đình nên làng nghề chỉ còn tồn tại nhỏ lẻ một số hộ gia đình và những người trên 60 tuổi làm nón.

non-3-1778574371.jpg
Những người lớn tuổi tại thôn Thống Nhất, xã Việt Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh nối tiếp và duy trì nghề làm nón truyền thống.

Chị Thảo, mới ngoài 30 tuổi, là con dâu bà Cúc, nhìn bàn tay thoăn thoắt của chị luồn kim may nón không ai nghĩ chị là người ở vùng khác đến. Từ khi về làm dâu chị cũng được học nghề từ bố mẹ chồng. Những lúc rảnh rỗi chị cũng ngồi khâu nón phụ bố mẹ chồng. Đến nay, các công đoạn làm nón chị đều đã thành thạo.

Chị Thảo chia sẻ: Lúc mới về làm dâu, thấy bố mẹ làm nên tôi cũng học theo để làm, lúc đầu chưa quen, làm chưa đẹp, đường may bị lệch, rồi thường xuyên bị kim đâm vào tay chảy máu nhưng sau dần rồi cũng thành quen. Tôi thấy nghề này cũng dễ học.

non-12-1778574683.jpg
Chị Thảo được coi là thế hệ trẻ nối tiếp nghề truyền thống của cha ông. ↵

Bà Vân nói: Dù sức khỏe đã dần yếu đi, nhưng tôi vẫn không bỏ được nghề. Tôi luôn mong muốn thế hệ trẻ trong thôn có thể duy trì nghề truyền thống của cha ông bằng việc làm nghề vào những ngày nghỉ hay các buổi tối rảnh rỗi. Điều này cũng góp phần lưu giữ nét đẹp văn hóa của quê hương.

Tâm huyết, trăn trở của bà Cúc, bà Vân, ông Tịnh cũng như các hộ làm nón tại xã Việt Xuyên với nghề truyền thống đã “truyền lửa” cho thế hệ sau. Theo đó, thời gian qua, ngôi nhà nhỏ của họ đã trở thành nơi quây quần, tụ họp của những người dân trong thôn. Họ tập trung về đây để được cùng làm, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm làm nón.

non-11-1778574396.jpg
Những chiếc nón đã hoàn thiện để đến tay khách hàng.

Một cán bộ phòng Kinh tế xã Việt Xuyên cho biết, làng nghề nón lá ở địa bàn đã có từ hơn 100 năm trước và được UBND tỉnh Hà Tĩnh công nhận là làng nghề truyền thống. Hiện, xã có hơn 54 hộ dân với khoảng 130 lao động duy trì nghề này.

Để giữ gìn nghề truyền thống, Câu lạc bộ Làng nghề làm nón và xúc tiến xây dựng tổ hợp tác sản xuất nón lá ra đời. Ngoài ra, địa phương cũng phối hợp với ngành giáo dục để đưa nghề làm nón lá vào chương trình cho các em học sinh trải nghiệm và học hỏi để lưu giữ nét đẹp của làng nghề truyền thống.

Đăng ký đặt báo