Đề xuất bổ sung 217 chỉ tiêu phục vụ kiểm kê khí nhà kính

Cục Thống kê đề xuất bổ sung 217 chỉ tiêu mới nhằm khắc phục những khoảng trống dữ liệu trong kiểm kê khí nhà kính, từng bước nâng cao độ chính xác và đáp ứng yêu cầu minh bạch khí hậu quốc tế.
Đề xuất bổ sung 217 chỉ tiêu phục vụ kiểm kê khí nhà kính. (Ảnh minh hoạ)
Đề xuất bổ sung 217 chỉ tiêu phục vụ kiểm kê khí nhà kính. (Ảnh minh hoạ)

Trong quy trình kiểm kê khí nhà kính, dữ liệu hoạt động và hệ số phát thải là những yếu tố quan trọng quyết định độ chính xác của kết quả. Tuy nhiên, thực tiễn tại Việt Nam cho thấy nhiều lĩnh vực vẫn thiếu số liệu chi tiết, hệ số phát thải quốc gia và cơ chế thu thập dữ liệu đồng bộ.

Tại hội thảo về nâng cao năng lực quản lý dữ liệu và thông tin báo cáo theo yêu cầu Khung minh bạch tăng cường (ETF) của Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, bà Đỗ Thị Hồng, Phó Trưởng ban Thống kê xã hội và Môi trường (Cục Thống kê, Bộ Tài chính), cho biết công tác kiểm kê khí nhà kính đã có những cải thiện về thể chế, chuyên môn, kỹ thuật và chất lượng số liệu qua từng kỳ. Dù vậy, vẫn còn những khoảng trống cần được khắc phục.

Theo bà Hồng, số liệu phục vụ kiểm kê hiện chủ yếu ở bậc 1, còn thiếu phân tổ chi tiết, hệ số phát thải quốc gia và đánh giá độ không chắc chắn. Những hạn chế này thể hiện rõ tại các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, sử dụng đất và chất thải.

Ở lĩnh vực năng lượng, dữ liệu kiểm kê hiện chủ yếu dựa trên hệ số phát thải mặc định của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), thay vì hệ số phát thải quốc gia. Dù đã có nguồn số liệu chính từ bảng cân bằng năng lượng của Bộ Công Thương, một số mặt hàng vẫn chưa có dữ liệu, trong khi thông tin tại các tiểu lĩnh vực như công nghiệp năng lượng, công nghiệp sản xuất và xây dựng, đốt nhiên liệu khác, khai thác than, dầu và khí tự nhiên còn thiếu chi tiết. Riêng phát thải khác từ sản xuất năng lượng chưa có số liệu.

Đối với các quá trình công nghiệp, dữ liệu cũng chủ yếu ở bậc 1, một số hệ số đã cũ và cần cập nhật. Trong 8 tiểu lĩnh vực, có 5 tiểu lĩnh vực mới có số liệu một phần, còn 3 tiểu lĩnh vực chưa có số liệu đầy đủ, gồm công nghiệp điện tử, sản xuất và sử dụng sản phẩm khác, cùng các quá trình công nghiệp khác.

Ở lĩnh vực xây dựng, nhiều hoạt động như sản xuất gạch ngói, gạch ốp lát, đá ốp lát và tấm lợp còn thiếu dữ liệu; số liệu clinker xuất nhập khẩu chưa ổn định. Trong khi đó, Việt Nam hiện là một trong những quốc gia sản xuất xi măng lớn trên thế giới, đứng thứ ba sau Trung Quốc và Ấn Độ, với hơn 80 nhà máy và tổng công suất thiết kế trên 120 triệu tấn mỗi năm.

Việc bổ sung các chỉ tiêu thống kê và xây dựng kênh thu thập dữ liệu đồng bộ được kỳ vọng góp phần nâng cao chất lượng kiểm kê khí nhà kính, đáp ứng yêu cầu minh bạch quốc tế. (Ảnh minh hoạ)
Việc bổ sung các chỉ tiêu thống kê và xây dựng kênh thu thập dữ liệu đồng bộ được kỳ vọng góp phần nâng cao chất lượng kiểm kê khí nhà kính, đáp ứng yêu cầu minh bạch quốc tế. (Ảnh minh hoạ)

Lĩnh vực giao thông vận tải cũng chưa có đầy đủ số liệu về hàng không quốc tế, hàng hải quốc tế, đánh bắt thủy sản, vận tải đường ống và phương tiện không tham gia giao thông. Trong nông nghiệp, lâm nghiệp, sử dụng đất và chất thải, nhiều hạng mục còn thiếu hoặc chưa có số liệu hoạt động.

Theo cơ quan thống kê, hệ thống chỉ tiêu hiện hành đã có nền tảng pháp lý nhưng chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về mức độ chi tiết. Các hạn chế đáng chú ý gồm thiếu dữ liệu tiêu thụ nhiên liệu theo ngành và quy trình sản xuất cụ thể; chưa có chỉ tiêu trực tiếp về phát thải khí nhà kính; thiếu thông tin về phát thải, rò rỉ trong khai thác, vận chuyển, chế biến nhiên liệu và thành phần chất lượng nhiên liệu.

Bên cạnh đó, hệ thống quốc gia về kiểm kê khí nhà kính theo Quyết định 2359/QĐ-TTg vẫn cần được hoàn thiện để bảo đảm kênh thu thập dữ liệu thông suốt từ cơ sở đến Trung ương.

So với yêu cầu của Khung minh bạch tăng cường (ETF), những hạn chế này ảnh hưởng đến tính đầy đủ, chính xác, nhất quán và minh bạch của kết quả kiểm kê. ETF yêu cầu bao phủ các nguồn phát thải, bể hấp thụ, có đủ số liệu hoạt động và hệ số phát thải; đồng thời ưu tiên sử dụng hệ số phát thải quốc gia, áp dụng phương pháp bậc cao đối với các nguồn phát thải chính và đánh giá độ không chắc chắn.

Trong khi đó, Việt Nam hiện vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp bậc 1 và hệ số phát thải mặc định, còn việc đánh giá độ không chắc chắn chưa đầy đủ.

Từ thực trạng trên, cơ quan thống kê đề xuất bổ sung 217 chỉ tiêu thống kê phục vụ kiểm kê khí nhà kính trong 6 lĩnh vực. Trong đó, các quá trình công nghiệp có số lượng chỉ tiêu đề xuất nhiều nhất, với 106 chỉ tiêu; lĩnh vực chất thải có số lượng ít nhất.

Đáng chú ý, có 175/217 chỉ tiêu, chiếm hơn 80%, được xác định ở mức 3, tức hoàn toàn chưa có nguồn dữ liệu và cần xây dựng mới kênh thu thập. Theo bà Hồng, đây là vấn đề đòi hỏi các cơ quan liên quan phải có giải pháp triển khai trong thời gian tới.

Để khắc phục những khoảng trống này, cơ quan thống kê đề xuất hoàn thiện căn cứ pháp lý cho hệ thống quốc gia về kiểm kê khí nhà kính; ban hành hệ thống chỉ tiêu phục vụ kiểm kê theo 6 lĩnh vực, kèm biểu mẫu và hướng dẫn thống nhất. Đồng thời, cần phân công rõ trách nhiệm cung cấp dữ liệu đến từng chỉ tiêu, tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành và lồng ghép những chỉ tiêu còn thiếu vào hệ thống chỉ tiêu thống kê chuyên ngành.

Theo lộ trình đề xuất, giai đoạn 2025-2027 sẽ triển khai 87 chỉ tiêu, tập trung vào các nguồn phát thải lớn, dễ kiểm soát, đã có cơ sở hạ tầng và hệ thống báo cáo, đồng thời đáp ứng yêu cầu cấp thiết của công tác kiểm kê.

Trong giai đoạn 2028-2030, 130 chỉ tiêu còn lại sẽ hướng đến các nguồn phát thải phân tán, khó thu thập dữ liệu, đòi hỏi đầu tư lớn cho hạ tầng kỹ thuật và nâng cao năng lực của nhiều nhóm đối tượng. Một số lĩnh vực cũng cần thêm thời gian do công nghệ còn mới, chưa phổ biến.

Việc bổ sung các chỉ tiêu thống kê và xây dựng kênh thu thập dữ liệu đồng bộ được kỳ vọng góp phần nâng cao chất lượng kiểm kê khí nhà kính, đáp ứng yêu cầu minh bạch quốc tế, đồng thời tạo cơ sở dữ liệu tin cậy phục vụ hoạch định chính sách giảm phát thải và thực hiện các cam kết khí hậu của Việt Nam.

Đăng ký đặt báo