Từ bức tranh nuôi biển truyền thống đến đột phá mang tư duy công nghệ cao
Quảng Ninh sở hữu hơn 250 km bờ biển với hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ, mang lại lợi thế tự nhiên vô cùng to lớn để phát triển kinh tế thủy sản, đặc biệt là nuôi biển. Tuy nhiên, trong nhiều thập kỷ qua, phương thức nuôi biển của phần lớn ngư dân địa phương vẫn mang tính tự phát, manh mún và lạc hậu. Các hệ thống bè gỗ, phao xốp thô sơ chủ yếu tập trung ở các vùng eo vịnh kín gió, gần bờ.
Cách làm truyền thống này đã bộc lộ những hạn chế nghiêm trọng. Sự quá tải của các lồng bè ven bờ gây ra nguy cơ ô nhiễm môi trường nước cục bộ, dịch bệnh thường xuyên bùng phát khiến người nuôi đứng trước rủi ro trắng tay.
Đặc biệt, trước sự biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt với các cơn bão lớn có sức tàn phá khủng khiếp (điển hình như siêu bão Yagi), kết cấu lồng bè truyền thống bằng gỗ tre hoàn toàn bất lực, dễ dàng bị đánh tan, đẩy người dân vào cảnh nợ nần. Việc tiến ra khơi xa, làm chủ vùng biển rộng lớn là bài toán bắt buộc nhưng không thể thực hiện nếu thiếu đi tư duy công nghệ.
Trước bối cảnh đó, mô hình thí điểm nuôi mực nhảy thương phẩm tại đặc khu Cô Tô đã xuất hiện như một minh chứng sống động cho tư duy dám nghĩ, dám làm và ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào thực tiễn. Đây được đánh giá là mô hình tiên phong đẩy mạnh tiến trình hiện đại hóa ngành nuôi biển ngoài khơi.

Ngày 30/6, đánh dấu một dấu mốc đặc biệt khi tỉnh Quảng Ninh tổ chức hội nghị công bố các quy hoạch chiến lược, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong việc hoàn thiện cơ sở pháp lý, mở rộng không gian phát triển và tạo động lực tăng trưởng cho giai đoạn mới.
Quy hoạch chiến lược được công bố ngay lập tức chứng minh sức hút của Quảng Ninh khi trở thành bệ đỡ vững chắc cho làn sóng đầu tư mới. Ngay trong khuôn khổ hội nghị, lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh đã trao quyết định phê duyệt chủ trương, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 18 dự án với tổng số vốn lên tới gần 45.000 tỷ đồng.
Trong nhóm dự án được trao chứng nhận, nổi bật là dự án khu nuôi trồng thuỷ sản tập trung quy mô công nghiệp tại đặc khu Cô Tô do Công ty Cổ phần Mực nhảy Biển Đông làm chủ đầu tư, dự án này cũng đã được khởi công vào chiều cùng ngày (30/6) tại đặc khu Cô Tô.
Đây là dự án trọng điểm, tiên phong trong lĩnh vực nuôi biển công nghiệp của Cô Tô nói riêng, Quảng Ninh nói chung, cụ thể hóa định hướng phát triển kinh tế biển bền vững, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn của tỉnh Quảng Ninh.
Với diện tích mặt nước được sử dụng lên tới 209ha, độ sâu tới 12m, tổng vốn đầu tư gần 67 tỷ đồng, Dự án Khu nuôi trồng thủy sản tập trung tại đặc khu Cô Tô là một mô hình nuôi biển công nghệ cao, sử dụng 100% hệ thống lồng bè và vật liệu nổi thân thiện với môi trường, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng mặt nước biển gắn với bảo vệ hệ sinh thái.
Thay vì dùng lồng gỗ truyền thống, mô hình ứng dụng hệ thống lồng nuôi bằng chất liệu nhựa HDPE chịu lực cao (gồm 43 lồng tròn HDPE đường kính 23m và 200 lồng vuông kích thước 6x6m, cùng hệ thống nhà điều hành, trạm điện nổi và cầu nối phục vụ vận hành) có độ bền hàng chục năm và khả năng chống chịu sóng gió lớn ngoài khơi xa. Khung lồng linh hoạt cho phép thích ứng với dòng hải lưu mạnh, mở rộng không gian nuôi ra những vùng biển thông thoáng, sạch sẽ.

Bên cạnh đó, quy trình quản lý, chăm sóc cũng được số hóa và áp dụng công nghệ tiên tiến. Hệ thống giám sát dưới nước giúp theo dõi sát sao sức khỏe của đàn mực nuôi và điều tiết lượng thức ăn vừa đủ, tránh lãng phí và không gây ô nhiễm tầng đáy. Đặc biệt, công nghệ giữ mực sống - duy trì trạng thái "mực nhảy" từ lúc thu hoạch ngoài khơi cho đến khi vào bờ đã giải quyết được điểm nghẽn lớn nhất về chất lượng thương phẩm, nâng giá trị kinh tế của con mực lên gấp nhiều lần so với sản phẩm đánh bắt hay nuôi thông thường.
Ngoài ra, dự án sẽ nuôi thí điểm cá nóc xanh; các loài nhuyễn thể và một số đối tượng thủy sản phù hợp khác có giá trị kinh tế cao theo mô hình nuôi đa tầng, dự kiến sẽ mang lại sản lượng nuôi trồng trên 830 tấn/năm.
Cú hích chuyển dịch sang nuôi biển công nghiệp hiện đại
Một điểm đáng chú ý của dự án là định hướng phát triển đa giá trị trên cùng một không gian biển. Bên cạnh hoạt động nuôi trồng thủy sản, nhà đầu tư dự kiến kết hợp tổ chức các hoạt động tham quan, trải nghiệm và giáo dục về nuôi biển, qua đó hình thành thêm sản phẩm du lịch mới cho địa phương.
Điều này không chỉ giúp tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ, thay đổi căn bản nhận thức của người dân và các doanh nghiệp tại Quảng Ninh mà còn minh chứng cho việc nuôi biển khơi xa không phải là điều bất khả thi nếu có công nghệ dẫn đường.

Để hiện thực hóa mục tiêu đưa Quảng Ninh trở thành trung tâm nuôi biển của cả vùng Đông Bắc, tỉnh đã và đang triển khai nhiều chính sách đột phá nhằm hỗ trợ ngư dân và doanh nghiệp thay đổi phương thức sản xuất.
‘Việc quy hoạch rõ ràng các vùng nuôi biển xa bờ, giao khu vực biển dài hạn cho người dân yên tâm đầu tư, cùng các chính sách hỗ trợ vốn, chuyển giao công nghệ đang được đẩy mạnh.
Theo số liệu thống kê cho thấy, hiện Quảng Ninh đã tích hợp vào quy hoạch tỉnh trên 50.000ha mặt nước biển dành để nuôi biển. Theo quy hoạch tỉnh đến năm 2030, nuôi biển công nghiệp chiếm trên 75% sản lượng, tốc độ tăng trưởng bình quân 8-10%/năm; đến năm 2050, nuôi trồng thủy sản trên biển được kỳ vọng đóng góp tới 80% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản của tỉnh.

Việc khởi công dự án khu nuôi trồng thủy sản tập trung tại đặc khu Cô Tô cũng là dấu mốc quan trọng trong quá trình hiện thực hóa định hướng phát triển kinh tế biển của tỉnh Quảng Ninh; góp phần chuyển đổi phương thức nuôi trồng thủy sản từ nhỏ lẻ sang tập trung, hiện đại, có kiểm soát, gắn sản xuất với bảo vệ môi trường biển và hệ sinh thái biển.
Từ "cú hích" này, một làn sóng chuyển đổi từ lồng bè truyền thống sang vật liệu mới bền vững đang diễn ra mạnh mẽ tại các địa phương trọng điểm như Vân Đồn, Đầm Hà, Hải Hà và Móng Cái.
Ngư dân không còn bó hẹp tư duy ở những eo vịnh gần bờ mà mạnh dạn liên kết, thành lập các hợp tác xã để đầu tư lồng HDPE quy mô lớn, hướng đến các đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao như cá song, cá vược, và các loại nhuyễn thể đặc sản.
Việc đưa nuôi biển từ phương thức truyền thống sang ứng dụng công nghệ cao không chỉ dừng lại ở bài toán nâng cao thu nhập cho ngư dân, mà còn mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc. Chuyển ra khơi giúp giảm tải áp lực môi trường cho vùng ven bờ, bảo tồn hệ sinh thái vịnh di sản. Đồng thời, mỗi một lồng nuôi công nghiệp kiên cố ngoài khơi xa, mỗi một ngư dân ứng dụng công nghệ hiện đại sẽ trở thành một "cột mốc chủ quyền" vững chắc, góp phần bảo vệ an ninh quốc phòng vùng biển tiền tiêu của Tổ quốc.