
Theo đó, trong tháng 7/2026, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục nhận được văn bản kiến nghị của Vingroup, Masterise và Thaco đề xuất cơ chế tín dụng cho tổng cộng 17 dự án, với nhu cầu vốn vay dự kiến khoảng 955.000 tỷ đồng.
Sau khi nhận được kiến nghị, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Công văn số 6601/NHNN-TD gửi Vingroup, Công văn số 6602/NHNN-TD gửi Masterise và Công văn số 6603/NHNN-TD gửi Thaco theo hướng doanh nghiệp chủ động làm việc với các ngân hàng thương mại để được xem xét cấp tín dụng theo quy định của pháp luật.
Trên cơ sở số liệu về nhu cầu vốn và kế hoạch giải ngân đối với từng dự án do các ngân hàng thương mại báo cáo, Ngân hàng Nhà nước sẽ thực hiện cấp bổ sung hạn mức tăng trưởng tín dụng cho các ngân hàng thương mại cấp tín dụng để doanh nghiệp triển khai các dự án.
Trước đó, vào tháng 6, Ngân hàng Nhà nước đã xử lý các kiến nghị liên quan đến nhu cầu tín dụng cho 18 dự án của Vingroup, Sun Group và Masterise, với tổng nhu cầu vốn vay khoảng 752.000 tỷ đồng.
Ngân hàng Nhà nước cho biết bước đầu đã tháo gỡ được một số khó khăn liên quan đến hạn mức tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn khi các ngân hàng thương mại xem xét nhu cầu vốn đối với 18 dự án này trên.
Như vậy, đến cuối tháng 7, 4 doanh nghiệp lớn là Vingroup, SunGroup, Masterise và Thaco đã kiến nghị cơ chế tín dụng cho 35 dự án có tổng nhu cầu vốn vay khoảng 1,707 triệu tỷ đồng.
Theo Ngân hàng Nhà nước, sức ép cung ứng vốn cho nền kinh tế của hệ thống ngân hàng vẫn lớn trong bối cảnh thị trường tài chính phát triển chưa cân xứng. Huy động vốn của hệ thống tổ chức tín dụng hiện tăng chậm hơn so với tăng trưởng tín dụng, vốn ngắn hạn là chủ yếu, trong khi tín dụng trung, dài hạn có xu hướng tăng, phản ánh rủi ro mất cân đối kỳ hạn và rủi ro thanh khoản gia tăng trong hệ thống.
Bên cạnh đó, tồn ngân ngân quỹ Nhà nước ở mức cao do thu ngân sách nhà nước tăng khá trong khi giải ngân đầu tư công còn chậm đã làm giảm tương ứng huy động vốn của các tổ chức tín dụng, qua đó tiếp tục gia tăng áp lực thanh khoản và huy động vốn.
Ngân hàng Nhà nước cũng cho biết mặt bằng lãi suất chịu nhiều sức ép từ nhu cầu huy động vốn phục vụ tăng trưởng tín dụng, cộng hưởng với áp lực lạm phát gia tăng. Việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý vì vậy trở nên khó khăn để vừa cân đối vốn cho hệ thống tổ chức tín dụng, vừa hỗ trợ ổn định thị trường ngoại tệ và kiểm soát lạm phát.
Để hỗ trợ hoạt động tín dụng ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước kiến nghị Bộ Tài chính phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương giảm tồn ngân ngân quỹ Nhà nước tại hệ thống ngân hàng, qua đó gia tăng lượng tiền lưu chuyển trong nền kinh tế, tạo tiền gửi cho hệ thống tổ chức tín dụng, cải thiện thanh khoản và giảm áp lực lên mặt bằng lãi suất.
Ngân hàng Nhà nước đồng thời kiến nghị nghiên cứu hình thức bảo lãnh của Chính phủ đối với các dự án đầu tư trọng điểm, quan trọng quốc gia trong phạm vi phù hợp với khung khổ quản lý an toàn nợ công, nợ nước ngoài quốc gia để huy động nguồn tài trợ từ nước ngoài, tận dụng nguồn vốn vay quốc tế, qua đó giảm gánh nặng lên nguồn huy động trong nước và gia tăng nguồn vốn cho phát triển kinh tế - xã hội.
Cùng với đó, cơ quan này cũng đề nghị quyết liệt giải ngân vốn đầu tư công năm 2026, tập trung vào các dự án quan trọng quốc gia và hạ tầng trọng điểm; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh phát triển thị trường vốn trong nước và đa dạng hóa nguồn lực đầu tư đối với các dự án lớn, công trình trọng điểm quốc gia. Trong đó, Ngân hàng Nhà nước đề cập các nguồn vốn có tính chất dài hạn như trái phiếu Chính phủ, vay nước ngoài và ODA.
Mặt khác, đối với các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước cho biết nhu cầu vốn đầu tư trong thời gian tới rất lớn, đặc biệt tại các doanh nghiệp ngành năng lượng gồm điện, dầu khí, than và hàng không, trong khi tín dụng chỉ là một kênh huy động vốn. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nghiên cứu, đề xuất giải pháp huy động nguồn vốn dài hạn phù hợp với thời gian thu hồi vốn của dự án; tăng cường huy động thông qua phát hành trái phiếu trong và ngoài nước, đồng thời thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn ODA vào phát triển các dự án một cách hợp lý./.