So với quy định hiện hành, Nghị định 374/2025/NĐ-CP kế thừa các nguyên tắc cũ nhưng đồng thời bổ sung, làm rõ và đầy đủ hơn các trường hợp được coi là đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Theo đó, ngoài các trường hợp người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp tại tháng chấm dứt hợp đồng hoặc tháng liền kề trước đó, nghỉ ốm đau, thai sản, nghỉ không lương hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, Nghị định mới nhấn mạnh thêm trường hợp người lao động nghỉ việc tại đơn vị sử dụng lao động không còn khả năng đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Nghị định số 158/2025/NĐ-CP về bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Quy định này được đánh giá là đã khép kín “khoảng trống pháp lý” trong thực tiễn, khi một số doanh nghiệp đột ngột ngừng hoạt động, phá sản hoặc mất khả năng thanh toán, nhưng người lao động vẫn được bảo vệ quyền lợi khi làm thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Cụ thể, theo Nghị định 374/2025/NĐ-CP, có 6 trường hợp người lao động được xác định là đang đóng bảo hiểm thất nghiệp. Thứ nhất, người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp của tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận trên sổ bảo hiểm xã hội.
Thứ hai, người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp của tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận.
Thứ ba, người lao động có tháng liền kề trước hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc mà nghỉ việc do ốm đau, thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, không hưởng tiền lương tại đơn vị và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận. Thứ tư, người lao động có tháng liền kề trước hoặc tháng chấm dứt hợp đồng mà nghỉ việc không hưởng lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng tại đơn vị và được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận.
Thứ năm, người lao động có tháng liền kề trước hoặc tháng chấm dứt hợp đồng mà tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng tại đơn vị, được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận. Thứ sáu, người lao động nghỉ việc tại đơn vị sử dụng lao động không còn khả năng đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.
Về mức đóng bảo hiểm thất nghiệp, quy định mới tiếp tục giữ nguyên tỷ lệ 1% tiền lương tháng đối với người lao động và 1% quỹ tiền lương tháng đối với người sử dụng lao động, nhưng phân định rõ nguồn đóng theo từng loại hình đơn vị.
Đối với cơ quan, đơn vị được ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động thường xuyên, phần đóng bảo hiểm thất nghiệp tương ứng do ngân sách nhà nước bảo đảm và được bố trí trong dự toán chi thường xuyên hằng năm. Với doanh nghiệp, đơn vị sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khoản đóng này được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ; các cơ quan, tổ chức khác sử dụng nguồn kinh phí hoạt động để thực hiện nghĩa vụ đóng.
Đáng chú ý, Nghị định 374/2025/NĐ-CP lần đầu tiên thiết lập cơ chế hỗ trợ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp từ ngân sách nhà nước với nguyên tắc cụ thể. Theo đó, ngân sách trung ương có thể hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động đang tham gia, nhằm bảo đảm số dư Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp hằng năm bằng 2 lần tổng các khoản chi chế độ và chi phí tổ chức thực hiện của năm trước liền kề.
Nghị định cũng quy định rõ phương thức chuyển kinh phí hỗ trợ, thời điểm xác định dự toán, thẩm định của Bộ Tài chính, cũng như cơ chế hoàn trả hoặc bổ sung kinh phí trong trường hợp số hỗ trợ thực tế chênh lệch so với nhu cầu.