
Sau gần một tháng triển khai đồng loạt chương trình kinh doanh xăng sinh học E10 trên toàn quốc, thị trường ghi nhận mức độ đón nhận khá tích cực khi loại nhiên liệu này nhanh chóng trở thành sản phẩm chủ lực tại các cửa hàng bán lẻ. Tuy nhiên, cùng với kết quả khả quan về tiêu thụ, bài toán chủ động nguồn nguyên liệu ethanol phục vụ pha chế vẫn là thách thức lớn.
Theo số liệu của Bộ Công Thương, trong giai đoạn từ ngày 1-28/6, tổng lượng xăng sinh học tiêu thụ trên cả nước đạt khoảng 980 triệu lít. Trong đó, xăng E10 đạt khoảng 924 triệu lít, tương đương 94,29% tổng sản lượng, còn xăng E5 đạt khoảng 56 triệu lít, chiếm 5,71%.
Hiện, hơn 17.000 cửa hàng bán lẻ xăng dầu trên cả nước đã chuyển sang kinh doanh xăng sinh học. Dù vậy, để đáp ứng nhu cầu của một bộ phận người tiêu dùng vẫn có nhu cầu sử dụng xăng E5, hiện vẫn còn gần 1.600 cửa hàng tiếp tục duy trì bán mặt hàng này.
Ở khâu cung ứng, Bộ Công Thương đánh giá thị trường xăng dầu trong tháng đầu triển khai E10 vận hành tương đối ổn định. Hai nhà máy lọc dầu Dung Quất và Nghi Sơn tiếp tục hoạt động bình thường, đáp ứng khoảng 70% nhu cầu xăng khoáng trong nước, phần còn lại do các doanh nghiệp đầu mối chủ động nhập khẩu để phối trộn và phân phối ra thị trường.
Tuy nhiên, điểm nghẽn hiện nay nằm ở nguồn cung ethanol nhiên liệu (E100) - thành phần bắt buộc để pha chế xăng E10.
Theo Bộ Công Thương, trong tháng 6, tổng nguồn cung E100 phục vụ pha chế đạt gần 122.000 m³, trong đó lượng nhập khẩu hơn 89.000 m³, tương đương khoảng 73,3% tổng nguồn cung. Sang tháng 7, tỷ lệ ethanol nhập khẩu dự kiến còn tăng lên gần 79%, trong khi nguồn sản xuất trong nước mới đáp ứng chưa tới 30% nhu cầu.
Hiện Việt Nam có 4 nhà máy sản xuất ethanol đang hoạt động nhưng chỉ có 3 nhà máy tham gia cung ứng E100 cho chương trình xăng sinh học, gồm Cồn Quảng Nam, Cồn Đồng Nai và Nhiên liệu sinh học Dung Quất. Ba cơ sở này có tổng công suất thiết kế khoảng 23.300 tấn/tháng, song sản lượng thực tế mới đạt khoảng 15.666 tấn/tháng, tương ứng khoảng 67,2% công suất.
Theo Bộ Công Thương, kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc phát triển thành công nhiên liệu sinh học luôn đi cùng chiến lược chủ động nguồn nguyên liệu trong nước. Mỹ sản xuất ethanol chủ yếu từ ngô, Brazil phát triển dựa trên mía đường và ngô, Thái Lan sử dụng rỉ đường, nước mía và sắn, đồng thời áp dụng chính sách hạn chế nhập khẩu để hỗ trợ sản xuất nội địa. Trong khi đó, Áo đã tự chủ hoàn toàn nguồn ethanol từ ngũ cốc, còn Ấn Độ tận dụng đa dạng nguyên liệu như mía, ngô, gạo dư thừa và phụ phẩm nông nghiệp.

Ngược lại, việc phụ thuộc nhiều vào ethanol nhập khẩu có thể khiến thị trường chịu tác động từ biến động giá nguyên liệu, chi phí logistics cũng như những thay đổi của thị trường quốc tế.
Ở góc độ người tiêu dùng, Bộ Công Thương cho biết số lượng phản ánh liên quan đến việc sử dụng xăng E10 đã giảm đáng kể sau thời gian đầu triển khai. Từ ngày 1-29/6, cơ quan này ghi nhận tổng cộng 293 phản ánh, chủ yếu liên quan đến tình trạng hao nhiên liệu, hụt ga, yếu máy, khó khởi động hoặc nghi ngại về chất lượng xăng.
Đáng chú ý, nếu trong giai đoạn từ ngày 6-11/6 có tới 248 phản ánh thì đến tuần từ ngày 19-25/6 chỉ còn 9 trường hợp, cho thấy những băn khoăn ban đầu của người sử dụng đang dần giảm bớt.
Bên cạnh đó, kết quả rà soát của Bộ Công Thương đối với 24 thương hiệu ô tô và 5 thương hiệu xe máy cũng cho thấy đa số các dòng xe được sản xuất từ khoảng giai đoạn 2000-2006 trở lại đây đều có thể sử dụng xăng E10 mà không cần thay đổi kết cấu động cơ. Điều này được kỳ vọng sẽ tạo thuận lợi cho quá trình mở rộng sử dụng nhiên liệu sinh học trong thời gian tới, song để bảo đảm tính bền vững, việc nâng cao năng lực sản xuất ethanol trong nước vẫn là yêu cầu quan trọng nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.