Dấu ấn Việt Nam tại Cop 28:

Nhờ bước chuyển từ nông nghiệp xanh

Với sự tham dự của gần 140 nguyên thủ, người đứng đầu Chính phủ và khoảng 90.000 đại biểu các Quốc gia, vùng lãnh thổ - COP28 2023, đã trở thành hội nghị thượng đỉnh COP lớn nhất trong lịch sử. Tại hội nghị, Việt Nam tham gia một số sáng kiến hợp tác đa phương mới về chuyển đổi năng lượng, tăng trưởng xanh và tạo được dấu ấn nhờ bước chuyển từ nông nghiệp “xanh”, xanhcả về tăng trưởng, tiêu dùng và có trách nhiệm với xã hội, môi trường.
2-phat-trien-kinh-te-xanh-ben-vung-1-1707610008.jpg
Dấu ấn của Việt Nam trong hành trình chống biến đổi khí hậu là việc bảo vệ và mở rộng diện tích rừng. (Ảnh minh họa)

Nỗ lực hiện thực hóa cam kết

Thủ tướng Phạm Minh Chính đã có bài phát biểu quan trọng tại COP 28 và đưa ra cam kết giảm phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 và tỏ rõ quyết tâm thực hiện. Đặc biệt, Thủ tướng đã nêu ra những nỗ lực, những kết quả đạt được trong hiện thực hóa các cam kết về ứng phó biến đổi khí hậu sau COP26, COP27 của Việt Nam như: ban hành điều luật, văn bản quy phạm pháp luật làm căn cứ choưu tiên đầu tư phát triển, phân bổ nguồn lực, kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh, giảm phát thải khí các –bon, khí mê tan và ứng phó biến đổi khí hậu.

Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành: Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050; Kế hoạch hành động giảm phát thải khí mê tan đến năm 2030; Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí carbon và khí mê-tan ngành giao thông vận tải; Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2021 – 2030; Thông qua Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) cập nhật năm 2022 phù hợp với các cam kết của Việt Nam tại COP26 để gửi Ban Thư ký Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu...

Các bộ Công Thương, Giao thông Vận tải, Xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Kế hoạch và Đầu tư, Ngoại giao, Quốc phòng, Công an đã chỉ đạo xây dựng kế hoạch hành động của ngành với những chỉ tiêu cụ thể triển khai cam kết tại COP26. Lãnh đạo Chính phủ, các bộ, ngành đã làm việc với các tổ chức quốc tế, các quốc gia và các định chế tài chính quốc tế nhằm thúc đẩy tiếp cận các nguồn lực tài chính, công nghệ, mở nhiều cơ hội hợp tác phát triển, hướng tới tăng trưởng phát thải carbon thấp.

Bộ Tài nguyên và Môi trường và một số bộ, ngành đã ký kết thỏa thuận hợp tác thực hiện cam kết COP26 với tổ chức như: Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA), Bộ Môi trường Hàn Quốc, Bộ Môi trường Nhật Bản, Bộ Khoa học Trái đất Ấn Độ, Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC), Liên minh Năng lượng vì hành tinh và con người (GEAPP); Cơ quan dịch vụ dự án Liên hợp quốc (UNOPS) cùng Quỹ Đối tác chuyển đổi năng lượng Đông Nam Á (ETP); Các ngân hàng: Citi Bank, HSBC, Standard Chartered, BIDV, Ngân hàng Hàng hải Việt Nam để triển khai các cam kết tại COP26; Làm việc với Liên minh Tài chính Glasgow (GFANZ) và các định chế tài chính trong và ngoài nước về đánh giá các giải pháp nhằm huy động tài chính, nguồn lực của khối tư nhân tham gia triển khai cam kết tại COP26.

Dấu ấn quan trọng nhất của Việt Nam trong hành trình chống biến đổi khí hậu, thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính là việc đàm phán và thông qua Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ Đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) cùng vớiNhóm các đối tác quốc tế (IPG) (bao gồm: Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, Đan Mạch và Na Uy). Thông qua JETP, Việt Nam đã thúc đẩy mạnh mẽ và nhanh hơn các cam kết về giảm phát thải khí nhà kính, trở thành hình mẫu cho các nước noi theo. Cũng từ đó, các đối tác quốc tế sẽ giúp Việt Nam thực hiện mục tiêu đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Năm 2023, Bộ Tài nguyên & Môi trường đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan xây dựng Đề án triển khai Tuyên bố JETP, trong đó xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, phân công trách nhiệm cụ thể cho các Bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, tổ chức liên quan. Ngoài ra, Bộ phối hợp với Bộ Tài chính hoàn thiện Đề án phát triển thị trường carbon tại Việt Nam; thúc đẩy hợp tác với các nước, các tổ chức, định chế tài chính quốc tế và khu vực tư nhân để vận động hỗ trợ thực hiện cam kết tại COP26, các chương trình hợp tác song phương và đa phương, hỗ trợ khối doanh nghiệp phát triển công nghệ ít phát thải và hướng dẫn các cơ sở thuộc đối tượng phải kiểm kê khí nhà kính.

Dấu ấn và thành công ban đầu

Từ những nỗ lực không ngừng, từ một quốc gia dễ bị tổn thương trong biến đổi khí hậu – Việt Nam đã truyền được cảm hứng về sản xuất xanh tại COP 28 với những hội nghị chuyên đề với tài liệu, hình ảnh bằng chứng, kết quả đo đạc và tính toán phát thải khí nhà kính trên ruộng lúa nước canh tác theo mô hình truyền thống (ĐC). Mô hình “Nông nghiệp thông minh thích ứng biến đổi khí hậu (CSA) tại tỉnh Quảng Nam trong 4 vụ Đông Xuân 2018 và 2019 đã thuyết phục người xem như: Nông dân tiết kiệm được 20kg urê, cắt giảm được 2 lần tưới ở giai đoạn lúa sau gieo 25 – 40 ngày, năng suất cao hơn ruộng sản xuất đối chứng khoảng 3 – 5 tạ/ha. Đánh giá chung, mô hình nông nghiệp thông minh thích ứng biến đổi khí hậu có tổng lượng phát thải giảm 14,5% - 23,8% so với canh tác truyền thống. Tổng lượng phát thải khí nhà kính ở mô hình canh tác CSA dao động 4954,5 - 5736,9 kg CO2 e/ha/vụ; mô hình canh tác truyền thống từ 5791,5 - 7525,2 kg CO2 e/ha/vụ. Việc áp dụng kĩ thuật tưới khô - ẩm xen kẽ đã làm giảm đáng kể sự phát thải khí mê tan, vốn là nguồn phát thải chính trong canh tác lúa nước. Việc giảm hợp lý lượng giống, phân bón và nước tưới tại mô hình CSA còn giúp tăng năng suất cao hơn 3,2% - 7,5% so với mô hình ĐC. Phát thải tính trên một đơn vị sản phẩm dao động 0,71 - 0,85 kg CO2 e/kg thóc. Mô hình CSA sẽ mở ra hướng đi mới trong quy hoạch, xây dựng vùng nguyên liệu lúa gạo xuất khẩu 1 triệu ha tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

1-nuoi-tom-duoi-tan-rung-ca-mau-1-1707610084.jpg
Câu chuyện về nuôi tôm sạch dưới tán rừng ở tỉnh Cà Mau là một điển hình về phát triển kinh tế xanh. (Ảnh minh họa)

Nhận diện rõ tình trạng khẩn cấp về khí hậu ngày càng trầm trọng, một vòng tròn sản xuất nông nghiệp thân thiện với môi trường có vai trò làm chậm quá trình biến đổi khí hậu. Tại COP 26,Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã cam kết: “Ứng phó với biến đổi khí hậu, phục hồi tự nhiên phải trở thành ưu tiên cao nhất trong mọi quyết sách phát triển, là tiêu chuẩn đạo đức cao nhất của mọi cấp, mọi ngành, mọi doanh nghiệp và mọi người dân”. Hiện thực cam kết của người đứng đầu Chính phủ, nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam có 57/63 tỉnh, thành phố sản xuất trên 174 ngàn ha, tăng 47% so với năm 2016 và đứng thứ 9/10 nước có diện tích đất nông nghiệp hữu cơ lớn nhất Châu Á. Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp hữu cơ tới 180 thị trường trên thế giới, đạt 335 triệu USD/năm. Số lượng nhà sản xuất nông nghiệp hữu cơ là hơn 17 ngàn đơn vị, 555 nhà chế biến, 60 nhà xuất khẩu(1)…; Đặc biệt, đã có hơn 90% các địa phương trên cả nước quan tâm và chỉ đạo, hướng dẫn, khuyến khích sản xuất hữu cơ, tạo sự lan tỏa trong cộng đồng người sản xuất, doanh nghiệp. Số lượng các mô hình sản xuất và liên kết sản xuất, tiêu thụ theo quy trình canh tác hữu cơ tại các địa phương ngày càng nhiều.

Câu chuyện về nuôi tôm sạch dưới tán rừng ở tỉnh Cà Mau là một điển hình: với mục tiêu có khoảng 30.000ha lúa - tôm đạt một trong các chứng nhận sạch, sinh thái của các tổ chức uy tín nước ngoài. Thực tế cho thấy, nuôi tôm dưới tán rừng đang là sinh kế chính của đại bộ phận người dân huyện Ngọc Hiển, Năm Căn… Và bây giờ, họ vẫn đảm bảo diện tích rừng đạt 60%, diện tích nuôi tôm 40% nhưng khác biệt là nhà nông đã thay đổi cơ bản trong suy nghĩ, cách thức thực hiện mô hình nuôi và cố gắng duy trì những tán rừng để bảo vệ lá phổi xanh, tạo giá trị cho cộng đồng. Đặc biệt, khi thực hiện mô hình nuôi tôm sinh thái, người dân còn được doanh nghiệp bao tiêu với giá cao hơn thị trường khoảng 5%.Hiện tại, huyện Ngọc Hiển có khoảng 21.000ha trong tổng số 57.000ha nuôi tôm dưới tán rừng được các tổ chức quốc tế công nhận, chứng nhận sạch, sinh thái. Và có thêm 9.000ha được xem xét công nhận thành vùng nguyên liệu chất lượng, giúp các doanh nghiệp xuất khẩu đến những thị trường khó tính nhất trên thế giới.

Cơ hội cho doanh nghiệp đầu tư phát triển

Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050, đánh dấu lần đầu tiên ngành nông nghiệp Việt Nam đặt ra kế hoạch cụ thể hướng tới một nền nông nghiệp sinh thái, minh bạch, có trách nhiệm. Vì vậy, dư địa tăng trưởng “xanh” ở cả 2 lĩnh vực trọng yếu là trồng trọt, chăn nuôi và lâm, thủy sản còn rất lớn bởi sự gắn kết với thị trường trong nước và xuất khẩu nông sản đặc trưng của xứ nhiệt đới được thế giới ưa dùng. Để mục tiêu sớm thành hiện thực, nhất định phải lan tỏa ý thức và hành động trong nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp tuần hoàn để Việt Nam trở thành quốc gia uy tín, cung ứng sản phẩm có trách nhiệm với người tiêu dùng, tiến ngang bằng các nước tiên tiến trên thế giới.

3-trong-rung-vua-phat-trien-kinh-te-ket-hop-bao-ve-moi-truong-1707610127.jpg
Vừa phát triển kinh tế nhưng người dân vẫn cố gắng duy trì những tán rừng để bảo vệ lá phổi xanh, tạo giá trị cho cộng đồng. (Ảnh minh họa)

Có thể hình dung bức tranh nông nghiệp Việt Nam sẽ hình thành vùng sản xuất các sản phẩm bản địa, đặc trưng, có tiềm năng để xây dựng nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý sản phẩm để đầu tư sản xuất nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp hữu cơ. Đồng thời, nghiên cứu và phát triển sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao có giá trị sinh học đặc thù, đảm bảo tính cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. Trong phân kỳ trung và dài hạn đến năm 2030, tầm nhìn 2050 diện tích nhóm đất nông nghiệp sản xuất hữu cơ đạt khoảng 2,5 - 3% tổng diện tích nhóm đất nông nghiệp; giá trị sản phẩm trên 1ha đất hữu cơ cao gấp 1,5 - 1,8 lần so với sản xuất phi hữu cơ. Phát triển các tổ chức chứng nhận, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và quy trình kỹ thuật, tăng cường chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu sản phẩm hữu cơ(2)… các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế nên chăng nắm lấy cơ hội, đầu tư phát triển chuyên sâu mộtlĩnh vực hoặc một khâu/ công đoạn trong quá trình “xanh hóa nông nghiệp”:

Một là, đầu tư nghiên cứu chọn tạo, sản xuất giống cây trồng, vật nuôi. Các chuyên gia cho rằng, hệ thống sản xuất giống ở nước ta tuy nhiều nhưng năng lực còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn của sản xuất hàng hóa, hướng xuất khẩu. Các giống cây lương thực chính như lúa đạt hơn 95% giống; ngô hơn 60% giống sản xuất trong nước và chất lượng bảo đảm theo tiêu chuẩn Việt Nam.Chỉ tính riêng giống cây trồng, trung bình mỗi năm Việt Nam phải chi 500 – 700 triệu USD để nhập khẩu; trong đó, 80% giống rau, hoa, quả. Với lợn và gia cầm, mỗi năm phải chi 126 – 130 triệu USD để nhập giống.

Hai là, đầu tư xây dựng nền công nghệ sinh học có nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, phát triển và ứng dụng vào sản xuất. Công nghiệp sinh học trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọngcủa quốc gia, đối với sinh trưởng cây trồng, vật nuôi, chủ động ngăn ngừa và phòng chống dịch hại. Đặc biệt là, công nghệ hóa sinh trong sản xuất, chế biến nông sản có giá trị tăng thêm rất cao, có vòng đời sản phẩm dài và thị trường ngày càng mở như: sản phẩm làm đẹp, sản phẩm dinh dưỡng, sản phẩm chữa trị bệnh. Công nghệ sinh học là trụ cột của nông nghiệp tuần hoàn, trong xử lý chất thải và phụ phẩm nông nghiệp vừa đảm bảo vệ sinh môi trường, vừa là sinh chất ủ rác hữu cơ thành phân hữu cơ bón cải tạo đất. Do vậy, doanhnghiệp công nghiệp sinh học cần tăng 50% về quy mô đầu tư và quy mô tăng trưởng, thay thế ít nhất 50% sản phẩm công nghệ sinh học nhập khẩu và đóng góp 15 - 25% vào GDP nông nghiệp.

Ba là, đầu tư chế tạo và nâng cao chất lượng các loại máy cơ khí động lực nông nghiệp phục vụ cho CNH- HĐH: bởi nông dân đang có xu hướng chuyển dịch từ máy có công suất nhỏ (dưới 15 mã lực) sang sử dụng máy có công suất cỡ trung (18-35 mã lực) và cỡ lớn (trên 35 mã lực). Ngoài ra, một số loại máy có nhu cầu mua nhiều như: máy xới cỏ, máy phun thuốc bảo vệ thực vật cho lúa, chè, cà phê mía… cần 25%; máy thu hoạch cây hàng năm cầntrên 50%. Riêng vùng nuôi tôm ĐBSCL, mỗi năm cần khoảng 70.000 máy nổ các loại, có động cơ 6 - 10 mã lực trong khi năng lực sản xuất trong nước chỉ mới đạt khoảng 1/3 nhu cầu. Hiện người dân có xu hướng chuộng mua máy đã qua sử dụng của Nhật Bản, Nga, Hàn Quốc…(3)

Bốn là, đầu tư nghiên cứu, chế tạo, sản xuất các thiết bị điện tử thông minh thế hệ mới, có tính năng vượt trội về điện toán và số hóa như: thiết bị cảm biến, đo lường, quan trắc, quan sát, truyền tín hiệu, tự động hóa… phục vụ cho công tác dự báo, cảnh báo thiên tai, lũ lụt, sạt lở đất…; cho công nghiệp tưới tiêu nước đối với cây trồng; quản lý, bảo vệ, phòng cháy rừng và phát triển nông nghiệp công nghiệp cao, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp chính xác… đang trong quá trình phát triển nhanh, mạnh và khá năng động đối với kinh tế hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã và khu vực trang trại, gia trại…

Nông dân thay đổi, hợp tác xã thay đổi và phát triển nông nghiệp “xanh” vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp là đặc biệt quan trọng. Có thể nói, tiên phong đi đầu, truyền cảm hứng làm nông nghiệp xanh và chia sẻ bài học, kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp bền vững, thân thiện với môi trường sinh thái đã là “đạo” của doanh nhân… Và, nông nghiệp Việt Nam cần những con người như thế!

Chú thích:

(1) Nguồn Viện Nghiên cứu nông nghiệp hữu cơ và Tổ chức NNHC thế giới

(2) Báo cáo tại Đại hội của Hiệp hội Hữu cơ Việt Nam, nhiệm kỳ 2023 - 2028

(3) Nguồn Bộ Công Thương

Hoàng Trọng Thủy (Chuyên gia nông nghiệp, nguyên TBT tạp chí Nông thôn mới)