Nghiên cứu giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp tại Việt Nam

Bài nghiên cứu khoa học: "Nghiên cứu giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp tại Việt Nam" do nhóm tác giả: Nguyễn Hải Nam (Đại học Đại Nam), Nguyễn Thanh Phong (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) thực hiện.

Tóm tắt: Bài viết phân tích thực trạng cho thấy giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn của doanh nghiệp tăng trưởng ổn định bình quân đạt 106,88%, mức tăng trưởng này tập trung vào khu vực ngoài Nhà nước và FDI. Đầu tư dịch chuyển mạnh sang các vùng mới là ĐBSCL và miền núi phía Bắc. Các ngành Xây dựng và Dịch vụ lưu trú đối diện nhiều khó khăn, biến động lớn về tài sản. Đồng thời, bài viết đưa ra các giải pháp trọng tâm tập trung nhằm thúc đẩy đầu tư và đảm bảo cân bằng, phân bổ dầu tư theo vùng: thúc đẩy đầu tư có trọng tâm, đảm bảo cân bằng và phân bổ đầu tư theo vùng.
Từ khóa: tài sản cố định, đầu tư tài chính dài hạn, doanh nghiệp

1. Đặt vấn đề

Tài sản cố định là tài sản có thời gian sử dụng cố định và khấu hao theo thời gian, (Bộ Tài chính, 2013). Đầu tư tài chính dài hạn là hình thức đầu tư tài chính đòi hỏi thời gian dài. Mục đích tạo ra lợi nhuận, gia tăng tài sản nhưng sự thay đổi này sẽ chưa thể có được trong thời gian ngắn. Việc này yêu cầu nhà đầu tư phải có kiến thức về thị trường và lĩnh vực mà mình lựa chọn đầu tư, (Intracom, 2024). Tài sản cố định (TSCĐ) và đầu tư tài chính dài hạn đóng vai trò là nền tảng vật chất và là chỉ báo quan trọng phản ánh năng lực sản xuất, khả năng mở rộng quy mô cũng như định hướng phát triển chiến lược của doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc phân tích xu hướng và cơ cấu tài sản là hết sức cần thiết. 

Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam đang trải qua những biến động lớn. Việc tái cơ cấu mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp Nhà nước và sự tăng trưởng vượt trội của khu vực FDI và tư nhân đã làm thay đổi đáng kể bức tranh phân bổ tài sản. Đồng thời, sự phân hóa đầu tư theo ngành và vùng cũng đặt ra nhiều thách thức. Mặc dù các vùng trọng điểm như Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ tiếp tục thu hút quy mô vốn lớn, tốc độ tăng trưởng cao lại đang dịch chuyển sang các vùng kém phát triển hơn như Đồng bằng sông Cửu Long, đòi hỏi phải có chiến lược đầu tư hạ tầng đồng bộ.

Từ thực tế đó, bài viết này tập trung vào việc phân tích xu hướng và cơ cấu giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp Việt Nam trên các khía cạnh: loại hình doanh nghiệp, ngành kinh tế và vùng, giai đoạn 2020-2022. Mục tiêu là làm rõ sự chuyển dịch nguồn lực, đánh giá những điểm hạn chế và đưa ra một số giải pháp trọng tâm tập trung nhằm thúc đẩy đầu tư và đảm bảo cân bằng, phân bổ đầu tư theo vùng nhằm tăng cường hiệu quả phân bổ vốn và đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững, cân bằng giữa các khu vực.

2. Cơ sở lý luận

2.1. Tài sản cố định

2.1.1. Khái niệm tài sản cố định

Tài sản cố định không có quy định chung mà theo Thông tư 45/2013/TT-BTC thì tài sản có thời gian sử dụng cố định và khấu hao theo thời gian và cụ thể có thể phân loại đối với từng loại tài sản cố định như sau: 

(1) Tài sản cố định hữu hình - Là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải... 

(2) Tài sản cố định vô hình - Là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng; chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả... 

(3) Tài sản cố định thuê tài chính - Là những TSCĐ mà doanh nghiệp thuê của công ty cho thuê tài chính. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê tài chính ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng. Mọi TSCĐ đi thuê nếu không thoả mãn các quy định nêu trên được coi là tài sản cố định thuê hoạt động. 

(4) Tài sản cố định tương tự là TSCĐ có công dụng tương tự trong cùng một lĩnh vực kinh doanh và có giá trị tương đương, (Bộ tài chính, 2013).

2.1.2. Phân loại tài sản cố định của doanh nghiệp

Căn cứ Điều 6 Thông tư 45/2013/TT-BTC quy định về mục đích sử dụng của tài sản cố định, doanh nghiệp tiến hành phân loại tài sản cố định theo các chỉ tiêu sau: Tài sản cố định dùng cho mục đích kinh doanh là những tài sản cố định do doanh nghiệp quản lý, sử dụng cho các mục đích kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với tài sản cố định hữu hình, doanh nghiệp phân loại như sau: 

Loại 1: Nhà cửa, vật kiến trúc: là tài sản cố định của doanh nghiệp được hình thành sau quá trình thi công xây dựng như trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, sân bãi, các công trình trang trí cho nhà cửa, đường xá, cầu cống, đường sắt, đường băng sân bay, cầu tầu, cầu cảng, ụ triền đà. 

Loại 2: Máy móc, thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, giàn khoan trong lĩnh vực dầu khí, cần cẩu, dây truyền công nghệ, những máy móc đơn lẻ. 

Loại 3: Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phương tiện vận tải gồm phương tiện vận tải đường sắt, đường thuỷ, đường bộ, đường không, đường ống và các thiết bị truyền dẫn như hệ thống thông tin, hệ thống điện, đường ống nước, băng tải.

Loại 4: Thiết bị, dụng cụ quản lý: là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy vi tính phục vụ quản lý, thiết bị điện tử, thiết bị, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng, máy hút ẩm, hút bụi, chống mối mọt.

Loại 5: Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và/hoặc cho sản phẩm: là các vườn cây lâu năm như vườn cà phê, vườn chè, vườn cao su, vườn cây ăn quả, thảm cỏ, thảm cây xanh...; súc vật làm việc và/ hoặc cho sản phẩm như đàn voi, đàn ngựa, đàn trâu, đàn bò…

Loại 6: Các loại tài sản cố định khác: là toàn bộ các tài sản cố định khác chưa liệt kê vào năm loại trên như tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật, (Bộ Tài chính, 2013).

2.2 Đầu tư tài chính dài hạn

2.2.1. Khái niệm đầu tư tài chính dài hạn

Đầu tư tài chính dài hạn là hình thức đầu tư tài chính đòi hỏi thời gian dài. Mục đích tạo ra lợi nhuận, gia tăng tài sản nhưng sự thay đổi này sẽ chưa thể có được trong thời gian ngắn. Việc này yêu cầu nhà đầu tư phải có kiến thức về thị trường và lĩnh vực mà mình lựa chọn đầu tư.

2.2.2. Đặc điểm của đầu tư dài hạn

Đầu tư dài hạn là một chiến lược mang lại nhiều ưu điểm vượt trội, bao gồm khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững, ổn định và tiềm năng đạt được nguồn lợi nhuận lớn nếu được thực hiện thành công. Với khung thời gian kéo dài, nhà đầu tư có lợi thế về thời gian để giải quyết rủi ro, tiếp tục duy trì hoạt động và giảm thiểu tối đa hậu quả từ các biến động ngắn hạn. Tuy nhiên, để chiến lược này sinh lời cao, nhà đầu tư cần có một nguồn vốn ban đầu vững chắc và kỹ năng phân tích thị trường nhạy bén. Đầu tư dài hạn có ba đặc điểm chính:

Thứ nhất là Thời gian đầu tư: Đây là việc tập trung nắm giữ tài sản trong ít nhất từ 2-3 năm, giúp nhà đầu tư hưởng lợi từ sự gia tăng giá trị theo thời gian và vượt qua các biến động ngắn hạn. Để đầu tư đúng đắn, nhà đầu tư cần xác định rõ ràng mục tiêu tài chính (như mua nhà, lương hưu) và trang bị kiến thức về xu hướng thị trường. 

Thứ hai là Lợi nhuận bền vững: Khác với đầu tư ngắn hạn, mục tiêu là xây dựng các danh mục đầu tư hướng đến lợi nhuận có tính ổn định cao. Điều này đòi hỏi phải đa dạng hóa tài sản vào nhiều lĩnh vực để giảm thiểu rủi ro, đồng thời nắm rõ khả năng tài chính cá nhân để xây dựng chiến lược hiệu quả. 

Thứ ba là Kiên nhẫn, nắm bắt xu hướng và cơ hội dài hạn: Yêu cầu người đầu tư phải có sự kiên trì, không hoảng loạn trước biến động ngắn hạn mà thay vào đó đánh giá các khả năng trong dài hạn dựa trên dữ liệu phân tích. Thành công đến từ việc nắm bắt xu hướng thị trường gắn liền với nhu cầu xã hội, do đó, nhà đầu tư cần không ngừng học hỏi và nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực mình đầu tư, (Intracom, 2024).

3. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng bộ số liệu của Tổng cục thống kê và phương pháp thống kê mô tả phân tích thực trạng giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp tại Việt Nam, từ đó đưa ra giải pháp tập trung nhằm thúc đẩy đầu tư và đảm bảo cân bằng, phân bổ đầu tư theo vùng.

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Thực trạng giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp

4.1.1. Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp phân theo loại hình doanh nghiệp

Giai đoạn 2020-2022 phản ánh rằng tổng giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp đang hoạt động tăng trưởng ở mức ổn định. Điều này cho thấy sự nỗ lực duy trì và mở rộng đầu tư. Bảng 1 cho thấy tổng giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn tăng từ 15.541,9 nghìn tỷ đồng năm 2020 lên 17.752,4 nghìn tỷ đồng năm 2022, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân năm là106,88% (tăng trung bình khoảng 6,88% mỗi năm). Tuy nhiên, bức tranh tăng trưởng này có sự phân hóa rõ rệt giữa các loại hình doanh nghiệp.

Bảng 1. Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh phân theo loại hình doanh nghiệp

12-1766633830.jpg
Nguồn: Tổng Cục thống kê (2023)

Hai khu vực (ngoài Nhà nước và FDI) đóng vai trò đầu tàu trong việc gia tăng giá trị tài sản. Khu vực Doanh nghiệp ngoài Nhà nước (DNNNN) không chỉ chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô (đạt 10.886,3 nghìn tỷ đồng năm 2022) mà còn duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân cao thứ hai sau doanh nghiệp FDI đạt 108,05%. Điều này phản ánh rằng có sự mở rộng mạnh mẽ của các doanh nghiệp tư nhân trong nước thông qua tích lũy tài sản cố định và đầu tư dài hạn. Giai đoạn 2020 – 2022 chỉ ra rằng doanh nghiệp FDI, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân cao nhất 110,10%. Giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn của khối doanh nghiệp này tăng từ 3.575,4 nghìn tỷ đồng năm 2020 lên 4.334,1 nghìn tỷ đồng năm 2022. Sự tăng trưởng này là do mức độ tăng trưởng mạnh của các DN liên doanh với nước ngoài, nhóm này đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khá ấn tượng lên tới 123,65%/năm (từ 574,3 nghìn tỷ đồng năm 2020 lên 878,1 nghìn tỷ đồng năm 2023). Điều này cho thấy sự gia tăng đáng kể của các dự án hợp tác đầu tư và mức độ tin cậy của các nhà đầu tư nước ngoài vào môi trường kinh doanh trong nước.

Ngược lại, với 2 khu vực trên, khu vực Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) lại cho thấy xu hướng khác biệt. Tổng giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của DNNN có xu hướng giảm nhẹ trong giai đoạn này, với tốc độ tăng trưởng bình quân năm chỉ đạt 97,89% (giảm từ 2.642,3 nghìn tỷ đồng  năm 2020 xuống 2.532,1 nghìn tỷ đồng năm 2023). Sự suy giảm này chủ yếu do nhóm doanh nghiệp 100% vốn nhà nước giảm mạnh với tốc độ tăng trưởng bình quân năm chỉ đạt 93,63%. Điều này do nguyên nhân tái cơ cấu, thoái vốn hoặc chuyển giao tài sản theo chủ trương cổ phần hóa và sắp xếp lại doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong khối DNNN, nhóm doanh nghiệp có hơn 50% vốn nhà nước lại duy trì được đà tăng trưởng dương và ổn định (bình quân tốc độ phát triển là 104,67%/năm). Minh chứng chỉ ra rằng sự tập trung đầu tư và phát triển vào các doanh nghiệp đã được cổ phần hóa hoặc có sự tham gia sâu của vốn tư nhân hay xã hội, giúp nâng cao hiệu quả và khả năng mở rộng quy mô đầu tư.

Tóm lại, sự tăng trưởng chung về giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn được duy trì chủ yếu nhờ vào sự bứt phá và mở rộng của khu vực tư nhân trong nước và vốn FDI, đặc biệt là hình thức liên doanh. Trong khi đó, khu vực Nhà nước đang trong giai đoạn tái cơ cấu và thu hẹp dần quy mô tài sản của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, làm thay đổi đáng kể cơ cấu đầu tư tài sản dài hạn trong nền kinh tế.

4.1.2. Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp phân theo ngành kinh tế

Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn phân theo ngành kinh tế về trong giai đoạn 2020-2022 (bảng 2) cho thấy tổng giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp Việt Nam có sự tăng trưởng ổn định (bình quân năm là 106,88%), nhưng có sự phân hóa rõ rệt về tốc độ và quy mô đầu tư giữa các ngành. Sự gia tăng tài sản tập trung chủ yếu vào các ngành có quy mô lớn như Công nghiệp chế biến, chế tạo (4.530,9 nghìn tỷ đồng năm 2022) và hoạt động kinh doanh bất động sản (3.488,5 nghìn tỷ đồng), cùng với khối hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (2.115,9 nghìn tỷ đồng) và sản xuất và phân phối điện, khí đốt... (1.820,9 nghìn tỷ đồng).

Kết quả phân tích cho thấy có một sự chuyển dịch đầu tư mạnh vào các lĩnh vực hạ tầng và dịch vụ xã hội. Các ngành có tốc độ tăng trưởng bình quân cao nhất bao gồm: Giáo dục và đào tạo, Khai khoáng, Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải. Các ngành Vận tải kho bãi và Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm cũng duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Điều này cho thấy có sự mở rộng liên tục về quy mô logistics và dịch vụ tài chính. Ngược lại, một số ngành chịu ảnh hưởng tiêu cực hoặc đang trong quá trình tái cơ cấu thể hiện qua tốc độ tăng trưởng bình quân thấp dưới 100%. Đáng chú ý, ngành Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có tốc độ giảm bình quân mạnh nhất là 93,21%, mặc dù giá trị tài sản phục hồi mạnh mẽ năm 2022 đạt 124,85%nhưng sau một cú sốc lớn năm 2021 giảm còn 69,59%, cho thấy sự biến động mạnh mẽ trong cơ cấu tài sản. Ngành Dịch vụ, lưu trú và ăn uống có tốc độ tăng trưởng bình quân 98,14%/năm và Thông tin và truyền thông bình quân đạt 99,20% đều có mức giảm nhẹ, trong đó ngành lưu trú bị tác động rõ rệt bởi đại dịch năm 2021. 

Đặc biệt, ngành Xây dựng, dù tăng mạnh năm 2021 nhưng lại giảm sâu năm 2022 đạt 81,39%, kéo tốc độ bình quân xuống dưới 100%, phản ánh những khó khăn của thị trường bất động sản và vốn trong năm này. Sự tăng trưởng chậm nhất thuộc về ngành Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản bình quân đạt 100,87%/năm, cho thấy sự hạn chế trong đầu tư dài hạn vào lĩnh vực này.

Bảng 2. Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh hằng năm phân theo ngành kinh tế

13-1766633937.jpg
Nguồn: Tổng Cục thống kê (2023)

Nhìn chung, giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh phân theo ngành kinh tế cho thấy có tập trung nguồn lực vào các ngành công nghiệp chế biến, bất động sản và tài chính, vốn là những lĩnh vực có vai trò trụ cột trong nền kinh tế. Đồng thời, tốc độ tăng trưởng vượt trội ở các ngành hạ tầng dịch vụ thiết yếu (điện, nước, giáo dục) phản ánh định hướng đầu tư vào các nhu cầu cơ bản và dài hạn của xã hội. Sự sụt giảm hoặc biến động mạnh trong đầu tư tài sản của các ngành như: Xây dựng, Dịch vụ lưu trú, và Khoa học công nghệ cho thấy sự nhạy cảm cao của các ngành này trước các yếu tố thị trường. 

Bảng 3. Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh phân theo vùng

14-1766634004.jpg
Nguồn: Tổng Cục thống kê (2023)

 

Có thể thấy, đầu tư dài hạn đang dịch chuyển theo hướng chuyên sâu và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, nhưng vẫn còn những điểm nghẽn về vốn ở các ngành chịu tác động từ chính sách hay thị trường.

4.1.3. Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp phân theo vùng

Số liệu bảng 3 chỉ ra rằng giai đoạn 2020-2022, tổng giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của doanh nghiệp cả nước ghi nhận sự tăng trưởng ổn định với tốc độ bình quân đạt 106,88%/ năm. Tuy nhiên, sự phân bố và tốc độ tăng trưởng này có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng kinh tế. Điều này phản ánh sự dịch chuyển và ưu tiên trong đầu tư. Phân tích quy mô tài sản cho thấy hai vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và Đông Nam Bộ (ĐNB) tiếp tục là hai trung tâm kinh tế lớn nhất, đồng thời cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản và đầu tư dài hạn. Tính đến năm 2022, ĐBSH đạt 5.966,1 nghìn tỷ đồng và ĐNB đạt 5.531,0 nghìn tỷ đồng. Mặc dù có quy mô tương đương nhau, tốc độ tăng trưởng của hai vùng lại có sự khác biệt: ĐBSH duy trì tăng trưởng ổn định bình quân năm đạt 107,23%, cao hơn so với ĐNB, vốn là khu vực có tốc độ tăng trưởng thấp nhất bình quân đạt 104,16%/năm. Điều này cho thấy ĐBSH đang dần bắt kịp và có xu hướng tăng tốc đầu tư so với ĐNB trong giai đoạn này.

Phân tích trên phương diện tốc độ tăng trưởng và sự mở rộng đầu tư chỉ ra rằng các vùng có tốc độ tăng trưởng bình quân cao nhất, thể hiện sự mở rộng đầu tư mạnh đó là: (1) Tây Nguyên bình quân năm giai đoạn 2020 – 2022 đạt 112,76%. Vùng này có tốc độ tăng trưởng đột biến năm 2021 là 128,29%, nhưng lại gần như chững lại năm 2022 đạt 99,12%. Sự tăng trưởng không đồng đều này có thể phản ánh một số dự án lớn được triển khai mạnh trong năm 2021 và hoàn thành hay giảm tốc đầu tư trong năm tiếp theo.(2) Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 111,63%. Vùng này có tốc độ tăng trưởng cao năm 2021 là 118,83%, sau đó giảm tốc nhưng vẫn giữ mức tăng trưởng dương năm 2022 đạt 104,87%. Điều này là do sự đầu tư lớn vào hạ tầng và sản xuất trong bối cảnh phục hồi sau đại dịch. Trung du và miền núi phía Bắc có tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 110,53%. Vùng này duy trì tăng trưởng cao và ổn định cả hai giai đoạn đều trên 110%. Như vây, có sự khẳng định vai trò ngày càng tăng trong việc thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư sản xuất.

Kết quả cho thấy sự tập trung đầu tư vẫn nằm ở hai cực kinh tế là ĐBSH và ĐNB, tạo ra sự chênh lệch lớn về quy mô tài sản giữa các vùng. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng lại tập trung vào các vùng đang phát triển như: Tây Nguyên, ĐBSCL và Trung du miền núi phía Bắc. Sự tăng trưởng nhanh ở các vùng này phản ánh định hướng dịch chuyển và mở rộng đầu tư ra khỏi các khu vực đã bão hòa (như ĐNB) sang các khu vực có tiềm năng phát triển mới, nhằm thu hẹp khoảng cách kinh tế vùng và khai thác lợi thế địa lý. Đặc biệt, sự tăng trưởng mạnh mẽ của ĐBSCL cho thấy những nỗ lực lớn trong việc cải thiện môi trường đầu tư và hạ tầng khu vực. Sự tăng trưởng của khu vực Đông Nam Bộ chậm lại có thể là dấu hiệu của việc bão hòa đầu tư hoặc chuyển hướng dòng vốn sang các địa phương lân cận hoặc các khu vực mới nổi.

4.2. Giải pháp thúc đẩy đầu tư và đảm bảo cân bằng, phân bổ đầu tư theo vùng

Trên cơ sở kết quả phân tích về giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp tại Việt Nam, để thúc đẩy đầu tư và cân bằng, phân bổ đầu tư theo vùng cần thực hiện giải pháp:

Thứ nhất, thúc đẩy đầu tư có trọng tâm như: (1) Ưu tiên phát triển hạ tầng vùng giúp giảm chi phí logistics và tăng sức hấp dẫn cho các dự án quy mô lớn. Cần có các cơ chế ưu đãi thu hút vốn FDI và vốn tư nhân vào các khu vực đang có tốc độ tăng trưởng cao như Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), Trung du và miền núi phía Bắc thông qua việc đẩy mạnh đầu tư công vào hạ tầng kết nối giao thông (cao tốc, cảng biển, logistics) và hạ tầng năng lượng. (2) Tái cấu trúc và nâng cao hiệu quả tài sản. Đối với các ngành có sự biến động lớn như: Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ và Dịch vụ lưu trú, cần đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu tài sản và vốn, khuyến khích chuyển đổi số và áp dụng công nghệ mới để nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản hiện có. (3) Hỗ trợ vốn cho ngành xây dựng và nông nghiệp. Cần có các giải pháp khơi thông dòng vốn cho ngành Xây dựng (giảm khó khăn về pháp lý và tín dụng) để khôi phục đà tăng trưởng, tránh sự sụt giảm đầu tư kéo theo các ngành liên quan. Đồng thời, cần có chính sách kích thích đầu tư dài hạn vào ngành Nông nghiệp (khoa học công nghệ, chế biến sâu) để thoát khỏi tình trạng tăng trưởng chậm.

Thứ hai, đảm bảo cân bằng và phân bổ đầu tư theo vùng. 

(1) Giảm áp lực đầu tư tại các vùng trọng điểm: Đối với Đông Nam Bộ (ĐNB), cần tập trung vào các dự án có giá trị gia tăng cao và công nghệ tiên tiến, thay vì mở rộng quy mô đầu tư đại trà. Khuyến khích liên kết vùng để chuyển giao các dự án công nghiệp thâm dụng lao động và tài nguyên sang các tỉnh lân cận hoặc các vùng có tiềm năng như ĐBSCL và Tây Nguyên. 

(2) Quản lý đầu tư vùng Tây Nguyên. Cần có cơ chế quản lý và giám sát chặt chẽ các dự án lớn tại Tây Nguyên để đảm bảo tính bền vững và tránh tình trạng đầu tư đột biến rồi chững lại, gây lãng phí nguồn lực và không tạo ra tác động lan tỏa lâu dài. 

(3) Đẩy mạnh phát triển Vùng. Cần thực hiện hiệu quả các Quy hoạch Vùng đã được phê duyệt, sử dụng nguồn vốn ngân sách làm vốn mồi để kích hoạt các dự án đầu tư tư nhân và FDI vào các khu vực đang có tốc độ tăng trưởng cao.

5. Kết luận

Bài viết cho thấy trong giai đoạn 2020-2022 tổng giá trị tài sản và đầu tư dài hạn của doanh nghiệp Việt Nam tăng trưởng ổn định bình quân đạt 106,88%nhưng có sự phân hóa rõ rệt giữa các loại hình doanh nghiệp. Sự tăng trưởng tập trung chủ yếu vào khu vực ngoài Nhà nước, FDI, trong đó các ngành chính là Công nghiệp chế biến, Bất động sản và Tài chính. Ngược lại, khối DNNN giảm và các ngành Xây dựng, Dịch vụ lưu trú chịu ảnh hưởng tiêu cực từ thị trường. Bên canh cạnh đó, đầu tư có xu hướng dịch chuyển nhanh sang các khu vực mới như Đồng bằng sông Cửu Long và Trung du miền núi phía Bắc, trong khi trung tâm truyền thống (Đông Nam Bộ) tăng trưởng chậm lại. Các nhóm giải pháp cần tập trung nhằm thúc đẩy đầu tư và đảm bảo cân bằng, phân bổ dầu tư theo vùng: thúc đẩy đầu tư có trọng tâm, đảm bảo cân bằng và phân bổ đầu tư theo vùng.

Tài liệu tham khảo

  • Bộ tài chính (2013). Thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25 tháng 4 năm 2013 về  hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định. 
  • Tổng Cục thống kê (2023). Động thái và thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2021 – 2023.
  • Intracom (2024). Đầu tư tài chính dài hạn: Dòng tiền bền vững và siêu “hời”. Truy cập tại: https://intra-com.com.vn/dau-tu-tai-chinh-dai-han/.

 

Đăng ký đặt báo