
Theo quy định mới tại Nghị định số 346/2026/NĐ-CP ngày 5/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về bảo hiểm nông nghiệp, phạm vi đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp được mở rộng, trong khi mức hỗ trợ phí cũng được điều chỉnh tăng.
Nghị định bổ sung nhóm “đối tượng bảo hiểm khác” bên cạnh ba nhóm hiện gồm cây trồng, vật nuôi và nuôi trồng thủy sản. Nhóm này bao gồm cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng thủy sản, cây lâm nghiệp chính, chủ lực thuộc danh mục do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương công bố.
Việc mở rộng danh mục đối tượng bảo hiểm tạo thêm dư địa để chính sách bám sát thực tế sản xuất, thay vì giới hạn ở một số loại cây trồng, vật nuôi và thủy sản được quy định cụ thể. Theo đó, phạm vi hỗ trợ có thể được điều chỉnh theo danh mục sản phẩm chủ lực, phù hợp với định hướng phát triển trong từng giai đoạn.
Nghị định số 346/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 20/10/2026.
Đặc biệt, mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp được điều chỉnh tăng đối với cả cá nhân và tổ chức sản xuất nông nghiệp. Cụ thể, cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ tối đa 95% phí bảo hiểm, tăng từ mức 90% hiện nay. Đối với cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo, mức hỗ trợ tối đa được nâng từ 20% lên 50%.
Đối với tổ chức sản xuất nông nghiệp, mức hỗ trợ tối đa được nâng lên 30%, tăng 10% so với quy định hiện hành. Chính sách áp dụng đối với doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp hoặc tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã khi đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Để được hưởng chính sách hỗ trợ, tổ chức sản xuất phải có hợp đồng liên kết gắn với sản phẩm nông nghiệp thuộc đối tượng được hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp, đồng thời bảo đảm các điều kiện theo quy định về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác xã, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Ngoài ra, tổ chức có sản phẩm nông nghiệp thuộc đối tượng được hỗ trợ bảo hiểm phải đáp ứng một trong các điều kiện theo quy định, như được cơ quan có thẩm quyền chứng nhận bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm; được công nhận là doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ cao; hoặc được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, văn bản xác nhận của Ban quản lý khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định.
Đáng chú ý, Nghị định số 346/2026/NĐ-CP là việc phân cấp mạnh hơn thẩm quyền quyết định chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp cho địa phương.
Theo Nghị định số 58/2018/NĐ-CP, Thủ tướng Chính phủ quyết định cụ thể nhiều nội dung của chính sách hỗ trợ, từ đối tượng tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp, loại cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng thủy sản, loại rủi ro được bảo hiểm, mức hỗ trợ, thời gian thực hiện đến địa bàn được hỗ trợ.

Theo quy định mới, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh căn cứ các quy định về đối tượng, mức hỗ trợ, loại rủi ro và các điều kiện liên quan, đồng thời phù hợp với tình hình thực tế và khả năng cân đối ngân sách, để quyết định trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương các nội dung gồm: địa bàn được hỗ trợ; đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ; loại rủi ro được bảo hiểm; mức hỗ trợ và thời gian thực hiện hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp.
Việc phân quyền này cho phép từng địa phương chủ động hơn trong việc xác định lĩnh vực và khu vực cần ưu tiên, dựa trên đặc điểm sản xuất và các rủi ro thường gặp. Nguồn lực hỗ trợ có thể được tập trung vào những vùng sản xuất cây trồng chủ lực, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc các khu vực thường xuyên chịu tác động của thiên tai, dịch bệnh.
Sau khi quyết định chính sách hỗ trợ, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm công bố văn bản trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương, đồng thời gửi Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và UBND cấp xã thuộc địa bàn được hỗ trợ.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, UBND cấp xã phải tổ chức tập huấn, tuyên truyền về bảo hiểm nông nghiệp theo quy định.
Với việc tăng mức hỗ trợ, mở rộng đối tượng bảo hiểm và phân cấp thẩm quyền cho địa phương, chính sách mới tạo thêm cơ sở để bảo hiểm nông nghiệp tiếp cận rộng hơn với người sản xuất. Đồng thời, việc trao quyền cho địa phương lựa chọn đối tượng, rủi ro, địa bàn và thời gian hỗ trợ giúp chính sách có thêm dư địa để phù hợp với điều kiện sản xuất và khả năng cân đối nguồn lực tại từng địa bàn.