Đồng Kỳ (TP Bắc Ninh): Từ giữ rừng đến kiến tạo giá trị kinh tế xanh

Rừng ở Đồng Kỳ không chỉ là diện tích cần được bảo vệ, mà đang được đặt trong một bài toán rộng hơn: làm thế nào để tài nguyên này tạo ra giá trị kinh tế, việc làm và sinh kế lâu dài mà không đánh đổi môi trường. Với hơn 2.730 ha rừng, trong đó phần lớn là rừng trồng sản xuất, địa phương đang từng bước định hình hướng đi từ nâng chất lượng rừng, phát triển gỗ lớn, mở rộng chứng chỉ FSC đến liên kết trồng – khai thác – chế biến – tiêu thụ.

Khi rừng không chỉ được giữ mà phải tạo ra sinh kế

Ở những địa bàn có diện tích rừng lớn, hiệu quả phát triển lâm nghiệp không thể chỉ được đo bằng số hecta rừng được bảo vệ hay diện tích trồng mới mỗi năm. Điều quan trọng hơn là nguồn tài nguyên ấy có tạo được thu nhập ổn định cho người dân, cung cấp nguyên liệu hợp pháp cho doanh nghiệp và duy trì được các giá trị sinh thái trong quá trình khai thác hay không. Đây cũng là câu chuyện đặt ra với Đồng Kỳ, nơi lâm nghiệp gắn trực tiếp với sinh kế của nhiều hộ dân.

dong-ky-3-1791796661.jpg
Theo kế hoạch năm 2026 xã Đồng Kỳ đề ra mục tiêu khai thác 25.000 m³ gỗ rừng trồng.

Theo Kế hoạch số 31/KH-UBND ngày 21/5/2026 của UBND xã Đồng Kỳ, địa phương có tổng diện tích tự nhiên 6.141 ha. Diện tích rừng tính đến ngày 31/12/2025 là 2.730,55 ha, gồm 179,02 ha rừng tự nhiên và 2.551,53 ha rừng trồng; độ che phủ rừng đạt 35,11%. Trong số này, hộ gia đình và cá nhân đang quản lý khoảng 2.029 ha, phần diện tích còn lại thuộc các tổ chức như Công ty TNHH Hai thành viên Lâm nghiệp Yên Thế, Lâm trường Đồng Sơn và Trại giam Ngọc Lý số 2, số 4.

Nhìn vào cơ cấu đó có thể thấy, lâm nghiệp không phải một lĩnh vực sản xuất bên lề ở xã Đồng Kỳ. Phía sau mỗi hecta rừng là cả một chuỗi hoạt động từ trồng, chăm sóc, khai thác đến vận chuyển, chế biến và tiêu thụ gỗ. Nếu tổ chức tốt, đây có thể trở thành chuỗi giá trị tạo việc làm và thu nhập cho người dân, đồng thời cung cấp nguồn nguyên liệu ổn định cho các cơ sở chế biến lâm sản trên địa bàn.

Nhưng diện tích rừng lớn chưa đồng nghĩa với giá trị kinh tế cao. Nếu người dân vẫn chủ yếu bán gỗ nguyên liệu ở khâu đầu vào, trong khi chế biến và tiêu thụ còn rời rạc, phần giá trị gia tăng giữ lại tại địa phương sẽ hạn chế. Cùng với đó, việc khai thác quá sớm để thu hồi vốn cũng khiến người trồng rừng khó nâng chất lượng gỗ và khó bước vào những phân khúc có giá trị cao hơn.

Đồng chí Lương Văn Hiến, Trưởng phòng Kinh tế xã Đồng Kỳ cho biết, hướng đi của địa phương thời gian tới không chỉ dừng ở việc bảo vệ diện tích rừng hiện có mà phải từng bước nâng hiệu quả kinh tế trên chính diện tích đó. Muốn vậy, công tác quản lý cần gắn với quy hoạch sử dụng đất, lựa chọn giống cây phù hợp, nâng chất lượng rừng sản xuất và quan trọng hơn là tạo điều kiện để người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp cùng tham gia vào chuỗi giá trị lâm sản.

“Đối với xã Đồng Kỳ, phát triển lâm nghiệp phải được nhìn theo hướng đa mục đích, đa giá trị. Người dân trồng rừng phải có thu nhập, doanh nghiệp phải có vùng nguyên liệu ổn định, còn địa phương phải bảo đảm được yêu cầu về bảo vệ tài nguyên và môi trường. Muốn làm được điều đó, không thể chỉ tập trung vào diện tích mà phải quan tâm đến chất lượng rừng, chất lượng gỗ và sự liên kết giữa các khâu từ trồng, chăm sóc, khai thác đến chế biến, tiêu thụ.”

Gỗ lớn, FSC và bài toán liên kết thị trường

Một trong những hướng đi được xã Đồng Kỳ xác định là chuyển dần từ phát triển rừng trồng gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn nhằm nâng giá trị sản xuất trên cùng diện tích đất lâm nghiệp. Năm 2026, địa phương đặt mục tiêu trồng mới 170 ha rừng sản xuất, trong đó khoảng 20 ha rừng gỗ lớn và 150 ha rừng gỗ nhỏ; đồng thời chuyển hóa khoảng 190 ha rừng trồng gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn, với mục tiêu khai thác 25.000 m³ gỗ rừng trồng.

dong-ky-1-1791796846.jpg
Một xưởng bóc gỗ Đức Nga tại xóm Đèo Cà, xã Đồng Kỳ. 

Đây là thay đổi có ý nghĩa về cách thức tổ chức sản xuất. Kinh doanh gỗ lớn đồng nghĩa với việc người trồng rừng phải chấp nhận chu kỳ dài hơn, đầu tư chăm sóc lâu hơn và đối mặt với yêu cầu vốn cũng như rủi ro thị trường cao hơn. Nếu không có đầu ra ổn định, nhiều hộ vẫn có xu hướng khai thác sớm để nhanh chóng thu hồi vốn.

Vì vậy, câu chuyện gỗ lớn không thể chỉ dừng ở vận động người dân thay đổi phương thức trồng rừng. Chính quyền cần đóng vai trò kết nối, hỗ trợ thông tin thị trường, hướng dẫn kỹ thuật, khuyến khích liên kết nhóm hộ và tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia tổ chức vùng nguyên liệu. Khi doanh nghiệp biết rõ nguồn cung, người dân biết rõ yêu cầu của thị trường và hai bên có thỏa thuận cụ thể về chất lượng, sản lượng, thời gian thu mua, việc nâng chất lượng rừng mới có nền tảng kinh tế bền vững.

Đồng chí Lương Văn Hiến, theo hướng nội dung được xây dựng từ kế hoạch phát triển lâm nghiệp của địa phương, cũng có thể nhấn mạnh rằng liên kết mới là yếu tố quyết định để những chủ trương về gỗ lớn và chứng chỉ rừng đi vào thực tế.

“Nếu từng hộ sản xuất riêng lẻ thì rất khó hình thành vùng nguyên liệu đủ lớn và ổn định. Khi có liên kết, người dân có thể cùng nhau tổ chức sản xuất, thống nhất yêu cầu về chất lượng, thời điểm khai thác; doanh nghiệp cũng thuận lợi hơn trong việc xây dựng kế hoạch thu mua. Đây là hướng mà địa phương cần thúc đẩy trong thời gian tới, bởi giá trị của rừng không chỉ nằm ở khâu trồng cây mà còn nằm ở khả năng kết nối được với thị trường.”

Cùng với gỗ lớn, FSC đang trở thành một hướng tiếp cận khác để nâng chất lượng vùng nguyên liệu. Kế hoạch năm 2026 của Đồng Kỳ xác định tiếp tục quản lý 710,28 ha rừng đã được cấp chứng chỉ FSC tại địa bàn xã Đồng Vương cũ, đồng thời phối hợp mở rộng vùng nguyên liệu đạt chứng chỉ FSC thêm 457,63 ha, thuộc 902 lô rừng tại địa bàn xã Đồng Hưu cũ.

Chứng chỉ FSC giúp tăng tính minh bạch về nguồn gốc nguyên liệu, cải thiện khả năng truy xuất và mở thêm cơ hội tiếp cận các thị trường coi trọng yêu cầu quản lý rừng bền vững. Tuy nhiên, chứng chỉ không phải “tấm vé” tự động làm giá gỗ tăng trong mọi giao dịch. Hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào khả năng tổ chức vùng nguyên liệu, chi phí tuân thủ, nhu cầu của doanh nghiệp và việc duy trì các yêu cầu quản lý trong suốt chu kỳ sản xuất.

Bởi vậy, mở rộng FSC cần đi cùng tổ chức lại sản xuất. Nếu mỗi chủ rừng thực hiện theo một cách, sản lượng phân tán, thời điểm khai thác không được chia sẻ, doanh nghiệp sẽ khó chủ động nguồn nguyên liệu, còn người dân cũng khó có vị thế tốt hơn trong đàm phán với bên mua.

Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng

Phát triển kinh tế rừng chỉ có ý nghĩa khi tài nguyên được sử dụng hợp lý và những rủi ro sinh thái được kiểm soát. Với rừng trồng sản xuất, cháy rừng là một trong những nguy cơ trực tiếp, nhất là tại những khu vực có thực bì dày hoặc phát sinh hoạt động đốt dọn sau khai thác.

dong-ky-2-1791796837.jpg
Một xưởng ván ép trên địa bàn xã Đồng Kỳ.

Theo báo cáo số 10/BC-BCH của Ban Chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng xã Đồng Kỳ, khoảng 750 ha rừng được xác định có nguy cơ cháy cao. Mùa khô 2025–2026, trên địa bàn không xảy ra vụ cháy rừng nào. Dù vậy, báo cáo cũng chỉ ra một số hạn chế như một số chủ rừng chưa thực hiện đầy đủ quy trình xử lý thực bì, chưa tạo đường băng cản lửa theo yêu cầu và có thời điểm công tác tuần tra, kiểm tra chưa thường xuyên.

Điều đó cho thấy trách nhiệm bảo vệ rừng không thể chỉ đặt lên lực lượng kiểm lâm hay các tổ đội phòng cháy, chữa cháy. Chủ rừng phải chủ động phòng ngừa, còn chính quyền cần tăng cường kiểm tra, hướng dẫn và huy động lực lượng tại chỗ. Đặc biệt, các hoạt động khai thác, xử lý thực bì phải được tổ chức đúng quy trình để lợi ích kinh tế trước mắt không tạo ra rủi ro đối với tài nguyên chung.

Ở góc độ quản lý, UBND xã Đồng Kỳ xác định tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước, kiểm soát hành vi xâm hại rừng, quản lý đất lâm nghiệp và hướng dẫn chủ rừng thực hiện các biện pháp bảo vệ, phát triển rừng. Đây là điều kiện để vừa duy trì nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất, vừa bảo đảm quá trình khai thác không làm suy giảm tài nguyên.

Vấn đề ở đây là chính quyền không thể thay người dân quyết định từng chu kỳ khai thác, cũng không thể thay doanh nghiệp tổ chức sản xuất, nhưng có thể tạo ra một khuôn khổ đủ rõ để các chủ thể cùng vận hành. Khi quy hoạch, quản lý rừng, chính sách hỗ trợ và tổ chức thị trường cùng hướng về một mục tiêu, rừng mới có thể trở thành nguồn lực phát triển lâu dài thay vì chỉ là nguồn thu theo từng kỳ khai thác.

Với xã Đồng Kỳ, bài toán phía trước vì thế không đơn thuần là trồng thêm bao nhiêu hecta rừng hay khai thác bao nhiêu mét khối gỗ. Điều quan trọng hơn là làm sao để mỗi hecta rừng tạo ra giá trị kinh tế cao hơn, người trồng rừng có động lực duy trì sản xuất bền vững, doanh nghiệp có vùng nguyên liệu ổn định và địa phương kiểm soát được những tác động đến môi trường.

Đó cũng là bước chuyển từ quản lý tài nguyên sang kiến tạo không gian phát triển kinh tế lâm nghiệp – nơi giá trị của rừng được tính không chỉ bằng những thân cây đứng trên đất, mà bằng cả sinh kế của người dân, giá trị gia tăng của sản phẩm, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và khả năng duy trì tài nguyên cho những chu kỳ sản xuất tiếp theo.

Đăng ký đặt báo