Ngọc Nương 9: Thêm một lựa chọn cho cánh đồng Bắc Ninh

Trong một vụ Mùa thời tiết nhiều biến động, mô hình sản xuất lúa Ngọc Nương 9 tại Bắc Ninh vẫn cho năng suất thóc tươi ước đạt 64,3 tạ/ha, lợi nhuận gần 22 triệu đồng/ha, cao hơn giống Bắc thơm số 7 khoảng 4,6 triệu đồng/ha. Con số này đáng chú ý không chỉ bởi năng suất, mà còn ở chỗ nó cho thấy một hướng tiếp cận khác: muốn nâng giá trị đất lúa, lựa chọn giống phải đi cùng tổ chức sản xuất, kiểm soát chi phí và khả năng thích ứng với điều kiện canh tác thực tế.

Không chỉ thử một giống lúa mới

Với cây lúa, năng suất từng là thước đo gần như quyết định để đánh giá một giống. Nhưng trên cánh đồng hôm nay, câu chuyện đã khác. Người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn đến chất lượng, độ thơm ngon và an toàn thực phẩm; trong khi người trồng lúa phải tính toán ngày càng chặt chẽ hơn về chi phí giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nhân công và rủi ro thời tiết. Vì thế, một giống lúa muốn đứng được trên đồng ruộng không chỉ cần cho năng suất khá mà còn phải có thời gian sinh trưởng phù hợp, khả năng chống chịu và quan trọng hơn là tạo ra phần lợi nhuận đủ để người nông dân có lý do tiếp tục lựa chọn.

nn9-1791206992.jpg
Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh triển khai mô hình “Sản xuất lúa Ngọc Nương 9".

Vụ Mùa năm 2026 là một phép thử tương đối rõ đối với yêu cầu đó. Từ ngày 20-24/8, mưa lớn trên diện rộng kết hợp ảnh hưởng của bão số 4 gây ngập úng cục bộ tại một số khu vực. Khi lúa bước vào giai đoạn trỗ, mưa rào, dông và độ ẩm cao tiếp tục tạo điều kiện cho một số đối tượng sâu bệnh phát sinh. Trong điều kiện ấy, Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh tiếp tục theo dõi Ngọc Nương 9 sau những kết quả bước đầu của vụ Xuân, nhằm đánh giá không chỉ khả năng sinh trưởng mà cả mức độ chống chịu sâu bệnh, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế.

Năm 2026, mô hình “Sản xuất lúa Ngọc Nương 9” được triển khai với tổng quy mô 70 ha, gồm 30 ha vụ Xuân và 40 ha vụ Mùa. Riêng vụ Mùa, diện tích được bố trí tại thôn Trung Hòa, xã Hợp Thịnh 20 ha; thôn Cẩm Trang, xã Hợp Thịnh 10 ha và thôn Trung Lạc, xã Yên Trung 10 ha. Cách bố trí tập trung không chỉ thuận lợi cho việc tổ chức sản xuất mà còn giúp cán bộ kỹ thuật có điều kiện theo dõi tương đối đồng nhất quá trình sinh trưởng, hướng dẫn chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và tổ chức thu hoạch. Đây là một chi tiết tưởng như thuộc về kỹ thuật nhưng lại có ý nghĩa đối với việc đánh giá giống, bởi năng suất cuối cùng không bao giờ chỉ là kết quả của riêng hạt giống.

Ngọc Nương 9 là giống lúa thuần chất lượng cao thuộc bản quyền của Công ty Cổ phần Tập đoàn Giống cây trồng Việt Nam, được Cục Trồng trọt công nhận lưu hành theo Quyết định số 569/QĐ-TT-CLT ngày 5/12/2024. Đây là giống cảm ôn, có thể gieo cấy hai vụ trong năm; tại khu vực Bắc Bộ, thời gian sinh trưởng vụ Mùa khoảng 105-110 ngày, cây cao trung bình 110-115 cm, bông to, dài, hạt gạo trắng trong, thon dài, cơm trắng, bóng, mềm, vị đậm và thơm. Năng suất trung bình được công bố ở mức 5,5-6 tấn/ha, thâm canh tốt có thể đạt 6,5-7 tấn/ha.

Tại Bắc Ninh, thời gian sinh trưởng thực tế trong vụ Mùa năm nay được ghi nhận khoảng 101-107 ngày, ngắn hơn khoảng thời gian được nêu trong đặc điểm giống. Ở Hợp Thịnh, lúa sinh trưởng trong 101-105 ngày, còn tại Yên Trung là 103-107 ngày. Sau khi bén rễ, cây phát triển khá nhanh, giai đoạn đẻ nhánh kéo dài khoảng 20-25 ngày, cuối giai đoạn này đạt 8-10 dảnh hữu hiệu/khóm. Giai đoạn trỗ kéo dài 9-10 ngày, lúa trỗ và thoát cổ bông tốt; từ trỗ đến chín, điều kiện nhiệt độ và độ ẩm được đánh giá phù hợp cho quá trình vận chuyển vật chất về hạt, giúp hạt căng, mẩy và giảm số hạt lép.

Hiệu quả không nằm riêng trong bản thân giống lúa

Một giống lúa có thể có tiềm năng tốt, nhưng để tiềm năng ấy chuyển thành năng suất và lợi nhuận trên đồng ruộng lại cần cả một quy trình phía sau. Với Ngọc Nương 9, quá trình theo dõi vụ Mùa cho thấy cây lúa vẫn chịu tác động của sâu bệnh trong những thời điểm thời tiết bất lợi. Ở giai đoạn đứng cái - làm đòng, mưa lớn, giông lốc xen kẽ nắng nóng làm gia tăng nguy cơ bệnh khô vằn và bạc lá; trên ruộng mô hình ghi nhận sâu cuốn lá nhỏ, bệnh khô vằn và đạo ôn lá ở mức nhẹ. Khi lúa trỗ - chín, nguy cơ đạo ôn cổ bông, bạc lá và đốm sọc vi khuẩn tiếp tục xuất hiện, nhưng việc thăm đồng, kiểm tra thường xuyên và xử lý theo khuyến cáo kỹ thuật giúp ruộng lúa duy trì bộ lá đòng xanh bền, các đối tượng sâu bệnh nằm trong ngưỡng an toàn khi bước vào thu hoạch.

nn9-1791207291.jpg
Giai đoạn lúa trỗ thấp tho.

Theo ông Nguyễn Ngọc Ninh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh, đây cũng là điểm cần nhìn nhận khi đánh giá một mô hình giống mới: không nên tách riêng khả năng của giống khỏi phương thức tổ chức sản xuất. Trong mô hình Ngọc Nương 9, các hộ tham gia được lựa chọn trước vụ sản xuất, có điều kiện về diện tích, lao động, vốn đối ứng và khả năng thực hiện quy trình kỹ thuật; cán bộ chuyên môn phối hợp với địa phương theo dõi từ khâu làm đất, gieo cấy, chăm sóc, quản lý nước đến phòng trừ sâu bệnh. Cùng với đó, cơ giới hóa được đưa vào các khâu làm đất, gieo cấy và thu hoạch, giúp giảm công lao động và chi phí sản xuất. Theo ông Ninh, những yếu tố này không trực tiếp “nằm” trong bản thân giống lúa nhưng lại quyết định đáng kể đến kết quả cuối cùng của mô hình.

Nhìn từ thực tế đó, kết quả của Ngọc Nương 9 cũng không nên được hiểu đơn giản là “giống mới cho năng suất cao hơn”. Đằng sau con số năng suất là cả cách tổ chức vùng sản xuất, cách quản lý đồng ruộng và khả năng kiểm soát các yếu tố đầu vào. Đây là vấn đề ngày càng quan trọng khi chi phí sản xuất có xu hướng tăng. Trong vụ Mùa năm nay, giá phân bón tăng khoảng 5-10%, thuốc bảo vệ thực vật tăng 10-15% và giá giống tăng 5-10% so với trước. Vì vậy, nếu chỉ nhìn vào giá mua giống ban đầu để lựa chọn thì rất dễ bỏ qua phần chi phí và giá trị tạo ra ở cuối vụ.

Cũng từ cách tiếp cận này, mô hình sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh, quản lý thuốc bảo vệ thực vật theo khuyến cáo và đẩy mạnh cơ giới hóa. Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh đánh giá việc sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh góp phần cải tạo đất, thân thiện với môi trường; sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng hướng dẫn vừa giúp kiểm soát sâu bệnh, vừa góp phần giảm chi phí và bảo đảm sức khỏe cho người sản xuất.

Nói cách khác, Ngọc Nương 9 đang được đặt trong một bài toán rộng hơn bài toán chọn giống. Đó là làm thế nào để cùng một diện tích đất, người nông dân có thể giảm bớt chi phí không cần thiết, hạn chế rủi ro và giữ lại phần giá trị lớn hơn sau mỗi vụ sản xuất.

Năng suất 64,3 tạ/ha, lợi nhuận cao hơn 4,6 triệu đồng

Các chỉ tiêu cấu thành năng suất cho thấy Ngọc Nương 9 đạt số bông hữu hiệu khoảng 205-207,5 bông/m², số hạt chắc/bông khoảng 135,3-140,2 hạt, tỷ lệ hạt chắc từ 92,5-93,6% và khối lượng 1.000 hạt khoảng 23 gram. Từ các chỉ tiêu này, năng suất thóc tươi của mô hình được ước đạt 64,3 tạ/ha. Đây là mức năng suất khá và cao hơn giống Bắc thơm số 7 được sử dụng làm đối chứng ngoài mô hình trong bảng tính hiệu quả kinh tế.

nn9-1791207404.jpg
Giai đoạn lúa chín.

Nhưng điều đáng chú ý hơn nằm ở phần lợi nhuận. Với Ngọc Nương 9, tổng chi phí sản xuất được tính khoảng 36 triệu đồng/ha; năng suất ước đạt 6.430 kg/ha, giá bán lúa tươi 9.000 đồng/kg, doanh thu khoảng 57,87 triệu đồng/ha và lợi nhuận 21,87 triệu đồng/ha. Trong khi đó, Bắc thơm số 7 có tổng chi phí khoảng 35,3 triệu đồng/ha, năng suất 5.840 kg/ha, doanh thu 52,56 triệu đồng và lợi nhuận 17,26 triệu đồng/ha. Như vậy, dù giá giống Ngọc Nương 9 cao hơn Bắc thơm số 7 khoảng 700.000 đồng/ha, năng suất cao hơn khoảng 590 kg/ha, giúp lợi nhuận cao hơn khoảng 4,6 triệu đồng/ha ở cùng mức giá bán lúa tươi.

Khoảng chênh lệch gần 4,6 triệu đồng/ha có thể chưa tạo ra một sự thay đổi lớn nếu chỉ nhìn trên một thửa ruộng. Nhưng khi được nhân lên trên diện tích sản xuất tập trung, ý nghĩa kinh tế sẽ rõ hơn. Trong điều kiện giá vật tư tăng, mỗi hecta tạo thêm được vài triệu đồng lợi nhuận là một phần dư địa quan trọng đối với người sản xuất. Quan trọng hơn, kết quả của mô hình cho thấy việc lựa chọn giống nên được tính trên toàn bộ chuỗi chi phí - năng suất - giá bán, thay vì chỉ đặt câu hỏi giống nào có giá thấp hơn.

Theo đánh giá của Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh, Ngọc Nương 9 bước đầu có khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện vụ Mùa tại các địa bàn triển khai, năng suất khá và hiệu quả kinh tế cao hơn giống Bắc thơm số 7. Tuy nhiên, đây mới là kết quả của một vụ sản xuất và cần tiếp tục theo dõi trước khi đưa ra những quyết định rộng hơn.

Thêm một lựa chọn, chưa phải câu trả lời cuối cùng

Điểm đáng chú ý nhất của mô hình có lẽ không nằm ở việc Bắc Ninh có thêm một tên giống trong danh sách giống lúa, mà ở cách kết quả ấy được đặt vào bài toán sản xuất thực tế. Từ một vụ Mùa nhiều biến động, Ngọc Nương 9 đã có những dữ liệu bước đầu về thời gian sinh trưởng, khả năng chống chịu, năng suất và hiệu quả kinh tế. Nhưng chính những dữ liệu đó cũng cho thấy cần thận trọng khi chuyển từ mô hình sang sản xuất diện rộng.

nn9-ma-khay-1791207568.jpg
Giai đoạn mạ khay.

Theo đề nghị của Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh, các địa phương, hợp tác xã và tổ hợp tác cần tiếp tục theo dõi khả năng sinh trưởng, phát triển và chống chịu của Ngọc Nương 9 trong những điều kiện khác nhau, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Một giống cho kết quả tốt trong một vụ chưa đồng nghĩa với việc phù hợp tuyệt đối với mọi chân đất, thời tiết và phương thức canh tác.

Vì thế, điều cần thiết lúc này không phải là mở rộng diện tích thật nhanh, mà là tiếp tục kiểm chứng một cách có hệ thống. Nếu Ngọc Nương 9 duy trì được kết quả qua nhiều vụ, ở những điều kiện sản xuất khác nhau, giống lúa này sẽ có thêm cơ sở để được xem xét đưa vào cơ cấu giống lúa hỗ trợ trên địa bàn, như đề nghị của Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh.

Nhìn rộng hơn, mô hình đang gợi ra một cách tính khác đối với sản xuất lúa: không chỉ chạy theo năng suất, cũng không chỉ nhìn vào giá giống, mà phải tính đến khả năng thích ứng, chất lượng, chi phí đầu vào, mức độ cơ giới hóa và cuối cùng là phần lợi nhuận còn lại trên mỗi hecta. Đây mới là thước đo có ý nghĩa khi quỹ đất nông nghiệp chịu nhiều sức ép, trong khi người nông dân phải đối mặt đồng thời với chi phí tăng và thời tiết khó đoán.

Với thời gian sinh trưởng 101-107 ngày, năng suất thóc tươi dự kiến 64,3 tạ/ha và lợi nhuận cao hơn giống đối chứng khoảng 4,6 triệu đồng/ha, Ngọc Nương 9 đã có những kết quả thực tế đủ đáng chú ý để tiếp tục được kiểm chứng. Chưa thể gọi đó là một lời giải cho bài toán sản xuất lúa ở Bắc Ninh, nhưng có thể xem đây là một tín hiệu đáng quan tâm: trên cánh đồng, muốn giữ đất lúa thì không chỉ cần giữ diện tích, mà còn phải tìm cách để mỗi hecta tạo ra giá trị cao hơn, ổn định hơn và bền vững hơn.

Đăng ký đặt báo