Đất hiếm được quản lý tập trung, kiểm soát chặt từ mỏ đến thị trường

Quy định mới yêu cầu toàn bộ khoáng sản đất hiếm chỉ được xuất khẩu khi đã qua chế biến sâu theo danh mục do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Cơ chế cấp phép, quản lý dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và hợp tác quốc tế cũng được kiểm soát chặt chẽ nhằm bảo đảm an ninh tài nguyên và lợi ích quốc gia.
dat-hiem-1772120773.webp
Siết quy trình cấp phép và xuất khẩu đất hiếm trên toàn quốc.

Hoạt động điều tra, thăm dò, khai thác và chế biến đất hiếm sẽ được đặt dưới cơ chế quản lý thống nhất, với yêu cầu xuyên suốt là bảo vệ tài nguyên, bảo đảm môi trường và hướng tới phát triển bền vững. Đáng chú ý, khoáng sản đất hiếm chưa đáp ứng tiêu chuẩn chế biến sâu theo quy định sẽ không được phép xuất khẩu; chỉ các sản phẩm đã qua chế biến sâu, thuộc danh mục do Thủ tướng Chính phủ quy định, mới được đưa ra thị trường quốc tế.

Nội dung này được nêu tại Văn bản hợp nhất 21/VBHN-BNNMT do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và khoáng sản, trong đó dành nhiều điều khoản cụ thể cho công tác quản lý đất hiếm. Theo đó, ngoài việc tuân thủ các quy định áp dụng với khoáng sản chiến lược, quan trọng, mọi hoạt động liên quan đến đất hiếm còn phải bám sát Chiến lược quốc gia về đất hiếm.

Cơ chế cấp phép được thiết kế theo hướng kiểm soát chặt chẽ ngay từ khâu đầu vào. Việc điều tra địa chất, đánh giá tiềm năng và thăm dò đất hiếm bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, thực hiện theo kế hoạch trung hạn và dài hạn. Đối với cấp giấy phép thăm dò cũng như chuyển nhượng quyền thăm dò đất hiếm, chỉ được triển khai sau khi có văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ và đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định.

Tương tự, hoạt động khai thác và chuyển nhượng quyền khai thác đất hiếm cũng phải trải qua bước phê duyệt ở cấp cao nhất. Trong thời hạn không quá 5 ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ từ cơ quan thẩm định, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường phải báo cáo Thủ tướng xem xét, quyết định việc chấp thuận hoặc không chấp thuận cấp phép. Sau khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của Thủ tướng, trong vòng tối đa 3 ngày làm việc, Bộ trưởng sẽ thực hiện cấp giấy phép khai thác hoặc chấp thuận chuyển nhượng. Trường hợp không được chấp thuận, cơ quan quản lý phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Đối với khâu chế biến, quy định đặt ra yêu cầu cao về công nghệ và an toàn. Hoạt động tuyển, tinh luyện, phân tách đất hiếm chỉ được tiến hành tại các cơ sở đủ điều kiện hoạt động theo pháp luật, đáp ứng tiêu chuẩn về công nghệ, bảo vệ môi trường và kiểm soát phóng xạ. Các tổ chức, cá nhân tham gia khai thác và chế biến có trách nhiệm gửi báo cáo hằng tháng về sản lượng khai thác, sản lượng chế biến, sản phẩm tinh luyện cùng các thông tin cần thiết khác tới Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công Thương.

Song song với quản lý hoạt động sản xuất, Nhà nước cũng xác định rõ cơ chế dự trữ và bảo vệ tài nguyên. Khu vực dự trữ khoáng sản đất hiếm được xác lập dựa trên kết quả điều tra địa chất, quy hoạch khoáng sản và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm khoanh định, phê duyệt, công bố danh mục và ranh giới các khu vực này; việc quản lý thực hiện theo quy định về khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia, bảo đảm không để xảy ra thất thoát hay xâm hại tài nguyên.

Toàn bộ thông tin, dữ liệu địa chất và khoáng sản về đất hiếm được quản lý tập trung tại cơ sở dữ liệu do Bộ Nông nghiệp và Môi trường vận hành. Việc thu thập, lưu trữ, khai thác và cung cấp dữ liệu phải tuân thủ quy định về bảo vệ bí mật nhà nước. Trên nền tảng đó, hệ thống dữ liệu số quốc gia về đất hiếm sẽ cho phép theo dõi liên tục sản lượng khai thác, chế biến, tinh luyện, phân tách, cũng như tình hình xuất nhập khẩu; đồng thời bảo đảm truy xuất nguồn gốc từ mỏ đến sản phẩm cuối cùng và thực hiện đối soát liên ngành giữa các lĩnh vực tài nguyên, công nghiệp, thương mại và hải quan.

Chính phủ thống nhất quản lý toàn diện hoạt động điều tra, thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng và dự trữ đất hiếm trên phạm vi cả nước, nhằm bảo đảm an ninh tài nguyên và lợi ích quốc gia. Bộ Nông nghiệp và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ về quản lý nhà nước trong các khâu điều tra địa chất, đánh giá tiềm năng, thăm dò và khai thác; đồng thời quản lý sản lượng theo từng mỏ, từng giấy phép, kể cả phần đất hiếm thu hồi từ khoáng sản đi kèm. Cơ quan này cũng xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia, bao gồm dữ liệu về trữ lượng, chất lượng, sản lượng quy đổi thống nhất, cùng mã định danh mỏ, giấy phép, doanh nghiệp và lô sản phẩm.

Về phía Bộ Công Thương, cơ quan này điều phối chính sách công nghiệp, thị trường và xuất nhập khẩu đối với đất hiếm và sản phẩm từ đất hiếm; quản lý, kiểm soát sản lượng chế biến và lưu thông trên cơ sở khai thác dữ liệu từ hệ thống quốc gia. Đồng thời, Bộ Công Thương tổ chức hệ thống truy xuất nguồn gốc theo chuỗi giá trị, bảo đảm mỗi sản phẩm lưu thông đều có thông tin hợp pháp, liên thông dữ liệu với Bộ Nông nghiệp và Môi trường và cơ quan hải quan, tránh trùng lặp hệ thống.

Đăng ký đặt báo