
Một trong những định hướng đáng chú ý của dự thảo là chuyển chính sách thu hút đầu tư theo hướng coi trọng chất lượng, hiệu quả, công nghệ, khả năng chuyển giao công nghệ và mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng, thay vì chủ yếu tập trung vào quy mô vốn đăng ký.
Theo Bộ Tài chính, việc sửa đổi Luật Đầu tư nhằm thể chế hóa các chủ trương, chính sách mới, trong đó có Kết luận số 18-KL/TW ngày 2/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, vay và trả nợ công, đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 gắn với mục tiêu tăng trưởng “2 con số”.
Cùng với đó, dự thảo hướng tới triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trọng tâm là nâng cao năng lực nội tại của nền kinh tế, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và thay đổi cách tiếp cận trong thu hút nguồn vốn ngoại.
Thay vì thu hút đầu tư chủ yếu theo địa giới hành chính, chính sách mới hướng đến các cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Chất lượng, hiệu quả, công nghệ, chuyển giao công nghệ, mức độ tham gia chuỗi cung ứng và giá trị gia tăng được xác định là những tiêu chí quan trọng hơn trong đánh giá dự án.
Dự thảo cũng đặt mục tiêu tạo dựng môi trường đầu tư kinh doanh công bằng, minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo cao, đồng thời xử lý những điểm chồng chéo, mâu thuẫn trong quá trình thực thi pháp luật.
Mở rộng lĩnh vực được hưởng ưu đãi đầu tư đặc biệt
Dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư số 143/2025/QH15, tập trung vào nhiều nội dung như điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, hình thức hỗ trợ đầu tư, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt, thủ tục đầu tư đặc biệt, cơ chế đặc thù thu hút đầu tư tại địa phương và kiểm soát dự án theo từng giai đoạn.
Đáng chú ý, tại khoản 3a Điều 8, Bộ Tài chính đề xuất bổ sung quy định về những ngành, nghề mà nhà đầu tư nước ngoài có thể sở hữu 100% vốn. Trong trường hợp cần thiết, điều kiện tiếp cận thị trường cũng có thể được nới lỏng nhằm tạo thêm dư địa thu hút nguồn lực quốc tế.
Với Điều 17 về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt, dự thảo đề xuất thay đổi theo hướng gắn quyền lợi của nhà đầu tư với kết quả thực hiện cam kết. Nhà đầu tư được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ phải thực hiện đầy đủ những nội dung đã đăng ký, báo cáo định kỳ và cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Cách tiếp cận này nhằm tạo sự tương xứng giữa quyền được hưởng ưu đãi và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong suốt vòng đời dự án. Nếu nhà đầu tư không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ cam kết, phần ưu đãi, hỗ trợ có thể bị điều chỉnh hoặc thu hồi một phần, thậm chí toàn bộ.
Một thay đổi khác là mở rộng nhóm dự án thuộc diện ưu đãi đầu tư đặc biệt theo các lĩnh vực được xác định là cốt lõi tại Nghị quyết 10-NQ/TW. Trong đó có công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến; công nghệ năng lượng, vật liệu tiên tiến và công nghiệp xanh; logistics hiện đại, dịch vụ chuỗi cung ứng, tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo có giá trị gia tăng cao; kho dự trữ năng lượng và kho dự trữ hàng hóa phục vụ khu vực, quốc tế.
Việc bổ sung này được kỳ vọng giúp chính sách ưu đãi hướng nhiều hơn tới những ngành có khả năng tạo giá trị gia tăng lớn, dẫn dắt chuỗi cung ứng và tạo hiệu ứng lan tỏa đối với nền kinh tế, thay vì tập trung ưu đãi đặc biệt vào một số nhóm ngành công nghệ nhất định.
Nhà nước có thể chia sẻ chi phí để thúc đẩy liên kết
Dự thảo đồng thời bổ sung cơ chế hỗ trợ đầu tư đặc biệt từ ngân sách nhà nước. Theo hướng đề xuất, doanh nghiệp có thể được Nhà nước hỗ trợ một phần chi phí hợp lệ nếu triển khai các hoạt động như phát triển nhà cung ứng trong nước, nghiên cứu và phát triển (R&D) liên kết với tổ chức trong nước, đào tạo và đào tạo lại nhân lực Việt Nam.
Đây là nội dung nhằm cụ thể hóa định hướng của Nghị quyết số 10-NQ/TW, qua đó khuyến khích doanh nghiệp FDI không chỉ đưa vốn vào Việt Nam mà còn tăng cường liên kết với khu vực doanh nghiệp nội địa, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực.
Bên cạnh đó, dự thảo đưa ra cơ chế hỗ trợ đối với trường hợp tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng phần lợi nhuận chưa chuyển ra nước ngoài để mở rộng hoạt động tại Việt Nam. Chính sách này được xây dựng trên cơ sở nhiệm vụ tại Kết luận số 18-KL/TW ngày 2/4/2026.
Tuy nhiên, việc mở rộng đầu tư từ nguồn lợi nhuận để lại phải tạo ra sự gia tăng thực chất về quy mô dự án, với tổng vốn đầu tư tăng từ 20% trở lên. Những trường hợp chỉ tổ chức lại doanh nghiệp, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp, mua lại doanh nghiệp hoặc dự án đang hoạt động sẽ không thuộc phạm vi áp dụng nhằm tránh việc lợi dụng chính sách cho các giao dịch M&A hoặc tái cấu trúc không làm tăng năng lực sản xuất.
Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp trong nước cũng được đề xuất tạo điều kiện tiếp cận công nghệ và thị trường quốc tế. Các doanh nghiệp thực hiện dự án trong những lĩnh vực cốt lõi theo Nghị quyết 10-NQ/TW có thể được vay vốn, hỗ trợ tín dụng từ Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và Quỹ Đổi mới Công nghệ quốc gia để mua công nghệ hoặc góp vốn, mua cổ phần tại doanh nghiệp nước ngoài. Qua đó, chính sách hướng tới nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam, mở rộng mạng lưới kinh doanh và tăng khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Đề xuất cơ chế đàm phán gói ưu đãi riêng
Một điểm mới đáng chú ý khác là đề xuất cho phép Chính phủ đàm phán với nhà đầu tư để xem xét áp dụng các gói ưu đãi, hỗ trợ vượt trội đối với những dự án thuộc ngành, lĩnh vực ưu tiên và có cam kết, kết quả thực hiện rõ ràng.
Theo Bộ Tài chính, các quy định hiện hành tương đối cứng, trong khi những dự án có quy mô rất lớn, sử dụng công nghệ cao hoặc mang tính chiến lược thường có nhu cầu hỗ trợ khác nhau. Vì vậy, cần một cơ chế linh hoạt hơn để Việt Nam có thể phản ứng nhanh và nâng cao khả năng cạnh tranh trong thu hút các nhà đầu tư chiến lược.
Cơ chế này cũng phù hợp với định hướng tại Nghị quyết 10-NQ/TW về xây dựng cơ chế phản ứng nhanh, linh hoạt và thủ tục đầu tư đặc thù đối với các dự án, cụm ngành, hệ sinh thái thuộc lĩnh vực ưu tiên, có khả năng tạo tác động liên vùng hoặc dẫn dắt chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.
Đối với các khu công nghiệp sinh thái, dự thảo còn đề xuất chính sách khấu hao nhanh đối với máy móc, thiết bị, dây chuyền và công nghệ đáp ứng tiêu chí chuyển đổi. Mục tiêu là tạo thêm động lực cho doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ thân thiện môi trường, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, năng lượng và đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang mô hình khu công nghiệp xanh.
Mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt
Về thủ tục đầu tư đặc biệt, dự thảo sửa đổi Điều 28 theo hướng mở rộng phạm vi dự án có thể lựa chọn cơ chế này. Các lĩnh vực được đề xuất bao gồm công nghiệp điện tử, chip bán dẫn, thiết bị số; trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, Internet vạn vật, chuỗi khối; công nghệ sinh học, y sinh tiên tiến; năng lượng và vật liệu tiên tiến; công nghiệp xanh.
Ngoài ra còn có logistics hiện đại, dịch vụ chuỗi cung ứng giá trị gia tăng cao, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm dữ liệu, kho dự trữ năng lượng và kho dự trữ hàng hóa phục vụ khu vực, quốc tế.
Các dự án thuộc những nhóm trên nằm ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế và các khu chức năng trong khu kinh tế cũng được đề xuất cho phép đăng ký đầu tư theo thủ tục đặc biệt.
Đáng chú ý, Điều 31 cũng được đề xuất điều chỉnh về thời hạn hoạt động của dự án. Theo đó, dự án đầu tư trong khu công nghiệp sinh thái có thể được kéo dài thời hạn hoạt động, nhưng tối đa không quá 70 năm.
Ngoài các nội dung trên, dự thảo còn sửa đổi quy định về hình thức hỗ trợ đầu tư, bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh, kiểm soát dự án theo vòng đời, xây dựng nền tảng số và cơ sở dữ liệu lớn về đầu tư trực tiếp nước ngoài tích hợp trên Cổng một cửa đầu tư quốc gia, chế độ báo cáo cũng như tháo gỡ vướng mắc cho các dự án đề nghị Nhà nước giao khu vực biển.
Bộ Tài chính đang tiếp tục lấy ý kiến đối với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. Toàn văn dự thảo và nội dung phục vụ góp ý được công bố trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.