
Trong bức tranh xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam 4 tháng đầu năm 2026, các nhóm hàng chủ lực đang thể hiện xu hướng phát triển không đồng đều. Một số mặt hàng như thủy sản và cà phê tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực về sản lượng hoặc kim ngạch, trong khi gạo, cao su và chè lại ghi nhận sự suy giảm về giá trị xuất khẩu do tác động từ giá thế giới và nhu cầu tại một số thị trường lớn.
Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thủy sản tiếp tục giữ vai trò là điểm sáng nổi bật trong toàn ngành. Riêng tháng 4/2026, kim ngạch xuất khẩu thủy sản ước đạt 947,8 triệu USD, góp phần nâng tổng giá trị 4 tháng đầu năm lên 3,59 tỷ USD, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là mức tăng trưởng đáng chú ý trong bối cảnh thị trường quốc tế vẫn còn nhiều biến động.
Cơ cấu thị trường cho thấy sự tập trung rõ rệt khi Trung Quốc, Nhật Bản và Hoa Kỳ tiếp tục là ba điểm đến lớn nhất của thủy sản Việt Nam, với thị phần lần lượt 26,7%, 13,8% và 13%. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh tới 52,3% trong 3 tháng đầu năm, trở thành động lực tăng trưởng chính của ngành. Nhật Bản cũng ghi nhận mức tăng nhẹ 1,8%, trong khi thị trường Hoa Kỳ lại giảm 7,4%. Trong nhóm 15 thị trường lớn nhất, Trung Quốc là thị trường tăng mạnh nhất, còn Hoa Kỳ là thị trường duy nhất sụt giảm.
Ở lĩnh vực gỗ và sản phẩm gỗ, xu hướng tăng trưởng diễn ra chậm hơn nhưng vẫn giữ được sự ổn định. Tháng 4/2026, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,43 tỷ USD, nâng tổng giá trị 4 tháng lên 5,42 tỷ USD, tăng nhẹ 0,4% so với cùng kỳ năm trước. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm tới 49,1% thị phần, theo sau là Trung Quốc với 15,2% và Nhật Bản 13,5%.
Tuy nhiên, diễn biến tại các thị trường lại có sự phân hóa rõ rệt. Xuất khẩu gỗ sang Hoa Kỳ giảm 8,2%, trong khi Trung Quốc tăng mạnh 47,2% và Nhật Bản tăng 6,1%. Đáng chú ý, Hà Lan là thị trường tăng trưởng ấn tượng nhất trong nhóm 15 thị trường lớn, với mức tăng gấp 2,1 lần, trái ngược với Hàn Quốc - thị trường giảm mạnh nhất, giảm 20,5%.
Với mặt hàng gạo, xu hướng giảm giá trị tiếp tục kéo dài trong 4 tháng đầu năm 2026. Riêng tháng 4, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,1 triệu tấn, đạt 492,7 triệu USD. Lũy kế 4 tháng, khối lượng đạt 3,3 triệu tấn, kim ngạch 1,57 tỷ USD, giảm 2,3% về lượng và giảm sâu 11,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Giá gạo xuất khẩu bình quân chỉ đạt 468,4 USD/tấn, giảm 9%, phản ánh áp lực cạnh tranh lớn trên thị trường quốc tế. Philippin vẫn là khách hàng lớn nhất, chiếm 48,5% thị phần, tiếp theo là Trung Quốc 15,6% và Gana 7%. Trong khi xuất khẩu sang Philippin tăng 6,7% và Trung Quốc tăng mạnh 44,4%, thị trường Gana lại giảm 28,7%. Đáng chú ý, trong nhóm 15 thị trường lớn, Bờ Biển Ngà ghi nhận mức giảm sâu nhất lên tới 59,6%.
Trái ngược với gạo, cà phê tiếp tục duy trì tăng trưởng về sản lượng nhưng chịu áp lực giảm giá trị. Tháng 4/2026, xuất khẩu cà phê đạt 198,8 nghìn tấn, tương đương 845,8 triệu USD. Tính chung 4 tháng, sản lượng đạt 789,3 nghìn tấn, kim ngạch 3,6 tỷ USD, tăng 15% về lượng nhưng giảm 7,8% về giá trị.
Giá cà phê xuất khẩu bình quân giảm mạnh 19,8%, xuống còn khoảng 4.555 USD/tấn. Đức, Italia và Tây Ban Nha tiếp tục là ba thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm lần lượt 15,3%, 8,2% và 7,4%. Trong khi xuất khẩu sang các thị trường châu Âu này đều giảm, Trung Quốc lại nổi lên với mức tăng 80,8%, trở thành thị trường tăng mạnh nhất. Ngược lại, Philippin giảm sâu 28,4%.
Với cao su, xuất khẩu tháng 4 đạt 73,6 nghìn tấn, trị giá 146,7 triệu USD. Lũy kế 4 tháng, đạt 463,8 nghìn tấn và 860,9 triệu USD, tăng 2,4% về lượng nhưng giảm 1,4% về giá trị. Giá bình quân đạt 1.856 USD/tấn, giảm 3,8%. Trung Quốc vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối với 66,1% thị phần, trong khi Inđônêxia và Ấn Độ lần lượt đạt 6,6% và 6%. Đáng chú ý, xuất khẩu cao su sang Trung Quốc giảm 10,3%, nhưng lại tăng mạnh tại Inđônêxia gấp 2,2 lần và Ấn Độ tăng 42,3%. Mêhicô là thị trường tăng trưởng mạnh nhất với mức tăng 4,4 lần, trong khi Braxin giảm sâu 42,1%.
Đối với chè, bức tranh xuất khẩu vẫn chưa có nhiều cải thiện. Tháng 4/2026 đạt 8 nghìn tấn, trị giá 14,8 triệu USD. Lũy kế 4 tháng, xuất khẩu chè đạt 33,7 nghìn tấn, tương đương 57,8 triệu USD, giảm 5,6% về lượng và gần như đi ngang về giá trị với mức giảm 0,04%.
Giá chè xuất khẩu bình quân tăng 5,9% lên gần 1.717 USD/tấn, cho thấy áp lực giảm chủ yếu đến từ sản lượng. Đài Loan, Pakixtan và Trung Quốc là ba thị trường lớn nhất. Trong đó, Đài Loan tăng 16,5%, Trung Quốc giảm 5,4%, còn Pakixtan giảm mạnh tới 75,2%. TVQ Arập Thống Nhất là thị trường tăng mạnh nhất với mức tăng 2,9 lần, trong khi Pakixtan cũng là thị trường giảm sâu nhất.