Thiết lập khung vận hành mới cho quỹ khoa học - công nghệ, tăng tốc đổi mới sáng tạo

Thông tư 17/2026/TT-BKHCN tạo nền tảng pháp lý đồng bộ cho các quỹ khoa học và công nghệ, hướng tới nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đổi mới cơ chế quản lý theo kết quả và thúc đẩy gắn kết nghiên cứu với nhu cầu thị trường.
cong-nghe-tien-tien-93697-1776357692.jpg
Mở hướng vận hành linh hoạt cho quỹ khoa học - công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo bứt phá.  ↵

Việc Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư số 17/2026/TT-BKHCN với Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của Quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xem là bước đi quan trọng nhằm tái cấu trúc cơ chế vận hành các quỹ hiện nay. Chính sách mới không chỉ tạo nền tảng pháp lý đồng bộ mà còn kỳ vọng nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu tư, đồng thời thúc đẩy sự hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có tính liên kết cao.

Thông tư chính thức có hiệu lực từ ngày 16/4/2026, áp dụng cho các quỹ thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Đây là động thái nhằm khắc phục khoảng trống pháp lý khi Thông tư số 03/2015/TT-BKHCN trước đó đã hết hiệu lực, trong bối cảnh hệ thống luật mới, đặc biệt là Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025, đã có nhiều thay đổi đáng kể.

Trên thực tế, hoạt động của các quỹ khoa học và công nghệ thời gian qua bộc lộ không ít hạn chế. Dù được trao cơ chế triển khai đa dạng các hình thức hỗ trợ như tài trợ, cho vay, bảo lãnh tín dụng hay nâng cao năng lực nghiên cứu, phần lớn quỹ lại tập trung chủ yếu vào hoạt động cho vay. Các hình thức tài trợ trực tiếp hoặc hỗ trợ nghiên cứu chưa được triển khai đồng đều, dẫn tới hiệu quả tổng thể chưa đạt kỳ vọng.

Một trong những điểm nghẽn lớn nằm ở cơ chế cho vay thông qua hệ thống ngân hàng thương mại. Lãi suất ưu đãi chưa đủ sức hấp dẫn khiến doanh nghiệp ít mặn mà tiếp cận nguồn vốn. Trong khi đó, phương án quỹ trực tiếp cho vay lại gặp trở ngại về nhân lực chuyên môn trong lĩnh vực tín dụng, kéo theo rủi ro cao và hạn chế khả năng mở rộng hoạt động.

Không chỉ dừng ở vấn đề tài chính, bộ máy tổ chức của nhiều quỹ cũng bộc lộ sự thiếu hụt về nguồn lực. Nhân sự phần lớn hoạt động kiêm nhiệm, thiếu tính chuyên sâu, trong khi cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý chuyên môn và cơ quan quản lý tài chính chưa thực sự rõ ràng. Điều này dẫn đến sự lúng túng trong quá trình triển khai nhiệm vụ, làm giảm hiệu quả vận hành chung.

Trong bối cảnh đó, việc ban hành Điều lệ mẫu được kỳ vọng sẽ tạo ra khung pháp lý thống nhất để các bộ, ngành và địa phương rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện quy chế hoạt động của các quỹ. Mục tiêu xuyên suốt là nâng cao hiệu quả quản lý, đồng thời đảm bảo nguồn lực đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được sử dụng đúng trọng tâm, trọng điểm.

Điểm đáng chú ý của Điều lệ mới là sự chuyển dịch mạnh mẽ sang cơ chế quản lý dựa trên kết quả đầu ra. Theo đó, việc cấp kinh phí không còn dàn trải mà được gắn với các mốc đánh giá cụ thể theo tiến độ và chất lượng thực hiện nhiệm vụ. Cơ chế này cho phép linh hoạt điều chỉnh, tiếp tục hoặc chấm dứt nhiệm vụ tùy thuộc vào kết quả đánh giá, qua đó nâng cao tính trách nhiệm và hiệu quả sử dụng vốn.

Cùng với đó, định hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm được nhấn mạnh rõ nét. Các hoạt động tài trợ và đặt hàng nghiên cứu được thiết kế gắn chặt với nhu cầu thực tiễn của thị trường, ưu tiên giải quyết các bài toán cụ thể của ngành, lĩnh vực và địa phương. Điều này được kỳ vọng sẽ thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng, thúc đẩy thương mại hóa kết quả khoa học.

Cơ chế lựa chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ cũng được đổi mới theo hướng cạnh tranh, minh bạch và công bằng hơn. Đáng chú ý, cơ chế đồng tài trợ được bổ sung nhằm huy động nguồn lực từ xã hội, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp. Với các nhiệm vụ có khả năng thương mại hóa, doanh nghiệp buộc phải tham gia đóng góp kinh phí, với tỷ lệ tăng dần theo mức độ hoàn thiện công nghệ.

Ngoài ra, Điều lệ mẫu cũng lần đầu tiên làm rõ cơ chế chấp nhận rủi ro có kiểm soát trong hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Các quyết định liên quan đến việc tiếp tục hay dừng nhiệm vụ sẽ dựa trên đánh giá của hội đồng khoa học hoặc chuyên gia độc lập, tạo cơ sở khoa học cho quản trị rủi ro.

Một điểm mới khác là việc tăng cường phân cấp, phân quyền cho các bộ, ngành và địa phương trong tổ chức và vận hành quỹ. Thay vì áp dụng mô hình cứng nhắc, quy định mới cho phép các đơn vị chủ động lựa chọn mô hình phù hợp với điều kiện thực tiễn, qua đó nâng cao tính linh hoạt và hiệu quả quản lý.

Theo quy định, trong vòng 15 ngày làm việc kể từ khi ban hành Điều lệ riêng, các cơ quan quản lý phải gửi về Bộ Khoa học và Công nghệ. Đối với các quỹ đã thành lập, việc rà soát, sửa đổi và bổ sung điều lệ cần hoàn thành trong thời hạn 30 ngày kể từ khi Thông tư có hiệu lực.

Với những điều chỉnh mang tính hệ thống, Điều lệ mẫu được kỳ vọng sẽ tạo cú hích cho hoạt động của các quỹ khoa học và công nghệ, thúc đẩy sự liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Qua đó, góp phần hình thành mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn tới.

Đăng ký đặt báo