Quốc hội thông qua Nghị quyết thành lập thành phố Quảng Ninh

Quốc hội thông qua Nghị quyết thành lập thành phố Quảng Ninh với 100% đại biểu có mặt tán thành, mở ra không gian phát triển mới cho một đô thị biển hiện đại, xanh, thông minh và có sức cạnh tranh.
1787574293213-5413822868205721345-g8129499988622679281-o-1787575499.jpg
Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết thành lập thành phố Quảng Ninh với 478/478 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành.

Chiều 24/8, tại phiên bế mạc Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội tiến hành biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc thành lập thành phố Quảng Ninh.

Kết quả biểu quyết điện tử cho thấy 478/478 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành, đạt 100% đại biểu có mặt. Với tỷ lệ đồng thuận tuyệt đối, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết thành lập thành phố Quảng Ninh.

Nghị quyết gồm 3 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/9/2026. Theo đó, thành phố Quảng Ninh được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh Quảng Ninh. Thành phố mới giáp thành phố Hải Phòng, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Lạng Sơn, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Biển Đông.

Sau khi thành lập, thành phố Quảng Ninh có diện tích tự nhiên 6.231,27 km², quy mô dân số 1.523.400 người và 54 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 30 phường, 22 xã và 2 đặc khu.

Đây là mô hình tổ chức đặc biệt: địa giới của thành phố trực thuộc Trung ương được giữ nguyên trên toàn bộ không gian tỉnh Quảng Ninh hiện nay. Vì vậy, việc thành lập thành phố không chỉ mang ý nghĩa về tên gọi hay cấp hành chính, mà đặt nền móng cho việc tổ chức lại không gian phát triển trên quy mô toàn tỉnh.

Trước khi được Quốc hội thông qua, Đề án thành lập thành phố Quảng Ninh đã được thảo luận tại Quốc hội trong các ngày 6/8 và 12/8. Theo báo cáo giải trình, có 67 lượt ý kiến phát biểu về đề án; các ý kiến đều tán thành sự cần thiết thành lập thành phố trên cơ sở đáp ứng đầy đủ 5 điều kiện và 7 tiêu chuẩn thành lập thành phố trực thuộc Trung ương.

Nghị quyết đồng thời quy định trách nhiệm của Chính phủ, HĐND, UBND tỉnh Quảng Ninh và sau ngày nghị quyết có hiệu lực là HĐND, UBND thành phố Quảng Ninh cùng các cơ quan hữu quan trong việc tổ chức thi hành, kiện toàn bộ máy, ổn định đời sống nhân dân, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh.

Đáng chú ý, các cơ chế, chính sách đặc thù đang áp dụng đối với tỉnh Quảng Ninh tiếp tục được thực hiện trên địa bàn thành phố cho đến hết thời gian áp dụng hoặc đến khi có quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền. Các giấy tờ, văn bản đã được cấp trước thời điểm nghị quyết có hiệu lực vẫn tiếp tục được sử dụng nếu còn giá trị pháp lý.

Những quy định chuyển tiếp này nhằm bảo đảm quá trình chuyển đổi diễn ra liên tục, hạn chế xáo trộn đối với người dân, doanh nghiệp và hoạt động của bộ máy chính quyền.

Điểm đáng chú ý nhất sau quyết định thành lập thành phố Quảng Ninh không nằm ở sự thay đổi tên gọi đơn vị hành chính, mà ở yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển.

Trong nhiều năm, Quảng Ninh đã xây dựng định hướng phát triển dựa trên lợi thế đặc biệt về biển, cửa khẩu, du lịch, công nghiệp và hệ thống hạ tầng kết nối. Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định Quảng Ninh trở thành cực tăng trưởng của khu vực phía Bắc, trung tâm du lịch quốc tế, trung tâm kinh tế biển, cửa ngõ của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và phát triển đô thị theo mô hình tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Việc chuyển sang mô hình thành phố trực thuộc Trung ương vì thế có thể xem là bước thể chế hóa không gian phát triển đã được hoạch định trong nhiều năm, đồng thời tạo điều kiện để Quảng Ninh tổ chức lại các nguồn lực trên quy mô lớn hơn.

d733640dc46d4587a075781cd9a3a133-61967-1787575686.jpg
Không gian đô thị Quảng Ninh được định hướng phát triển hiện đại, xanh, thông minh, gắn với bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hóa.

Thực tế, Quảng Ninh đã có nền tảng kinh tế đáng kể. Theo thông tin được địa phương công bố, năm 2025, Quảng Ninh đóng góp 2,87% vào quy mô GRDP cả nước và 9,4% vào GRDP vùng đồng bằng sông Hồng; đóng góp 4,1% vào tăng trưởng của cả nước và 11,3% vào tăng trưởng của vùng. Toàn tỉnh có 247 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 17,05 tỷ USD; thu ngân sách đứng thứ 6 cả nước, đóng góp khoảng 3,1% tổng thu ngân sách quốc gia.

Tuy nhiên, chính quy mô và vị thế mới cũng đặt ra bài toán phát triển phức tạp hơn. Một thành phố rộng hơn 6.200 km² với 54 đơn vị hành chính cấp xã không thể chỉ được quản trị theo tư duy của một đô thị tập trung. Không gian phát triển của Quảng Ninh bao gồm đô thị, nông thôn, miền núi, biên giới, biển, đảo và các khu kinh tế, khu công nghiệp; mỗi khu vực có lợi thế và yêu cầu quản trị khác nhau.

Bởi vậy, định hướng được đặt ra là xây dựng thành phố Quảng Ninh theo mô hình “Trung tâm, xanh, thông minh, có bản sắc”, từng bước chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang quản trị đô thị thông minh và bền vững.

Đây cũng là điểm khác biệt quan trọng của Quảng Ninh khi lựa chọn con đường phát triển đô thị: không chạy theo mở rộng không gian xây dựng đơn thuần, mà hướng tới sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, chất lượng môi trường và chất lượng sống.

Sau khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, Quảng Ninh được định hướng chuyển mạnh sang mô hình kinh tế dựa trên các chuỗi giá trị có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao.

Trụ cột đầu tiên là kinh tế biển, du lịch và dịch vụ cao cấp. Quy hoạch tỉnh xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, hướng tới hệ thống dịch vụ chất lượng cao, đẳng cấp quốc tế và giá trị gia tăng lớn. Quảng Ninh cũng được định hướng trở thành trung tâm du lịch quốc tế, với mục tiêu đến năm 2030 đón khoảng 25 triệu lượt khách, trong đó khoảng 8 triệu khách quốc tế.

Trụ cột thứ hai là logistics và trung chuyển quốc tế. Lợi thế biên giới, cảng biển, sân bay và các tuyến giao thông liên vùng tạo cho Quảng Ninh vị trí đặc biệt trong kết nối Việt Nam với Trung Quốc, Đông Bắc Á và ASEAN. Quy hoạch tỉnh đặt mục tiêu phát triển Quảng Ninh thành trung tâm logistics, cửa ngõ trung chuyển vận tải đa phương thức; sân bay quốc tế Vân Đồn được định hướng trở thành một trung tâm logistics của Việt Nam.

Trụ cột thứ ba là công nghiệp xanh, chế biến, chế tạo công nghệ cao. Đây được xem là hướng chuyển dịch quan trọng nhằm giảm sự phụ thuộc vào mô hình tăng trưởng truyền thống dựa nhiều vào khai thác tài nguyên. Quy hoạch tỉnh xác định tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, đồng thời phát triển năng lượng sạch và năng lượng tái tạo.

Trụ cột thứ tư là kinh tế số và đổi mới sáng tạo. Chính phủ yêu cầu Quảng Ninh tiếp tục chuyển đổi mô hình tăng trưởng, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực chủ yếu; phát triển công nghiệp hiện đại, công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo và tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng toàn cầu.

Định hướng này cho thấy thành phố Quảng Ninh được kỳ vọng không chỉ là một đô thị du lịch - dịch vụ, mà trở thành một không gian kinh tế đa cực, trong đó biển, cửa khẩu, công nghiệp, logistics, du lịch và kinh tế số hỗ trợ lẫn nhau./.

Đăng ký đặt báo