
Việc hợp nhất và cập nhật các quy định về tài nguyên nước đang mở ra bước chuyển mới trong quản lý lĩnh vực này, khi thẩm quyền được phân cấp mạnh hơn cho địa phương, đồng thời nhiều thủ tục hành chính được cắt giảm, đơn giản hóa. Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-BNNMT do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý thống nhất, minh bạch và thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân tham gia khai thác, sử dụng nguồn nước.
Văn bản này được xây dựng trên cơ sở Nghị định số 54/2024/NĐ-CP của Chính phủ và Nghị định số 23/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định trong lĩnh vực tài nguyên nước. Việc hợp nhất không làm phát sinh chính sách mới, nhưng giúp hệ thống hóa các quy định hiện hành, bảo đảm tính đồng bộ và dễ tra cứu, thực hiện.
Nội dung nghị định bao quát toàn diện các hoạt động từ hành nghề khoan nước dưới đất, kê khai, đăng ký, thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước đến dịch vụ tài nguyên nước và cơ chế tính, thu tiền cấp quyền khai thác. Với 5 chương, 59 điều, văn bản tạo khung pháp lý đầy đủ cho toàn bộ quy trình quản lý, từ khâu cấp phép đến tổ chức thực hiện trên thực tế.
Đáng chú ý, trong tổng số 59 điều, có tới 46 điều được sửa đổi, bổ sung so với quy định trước đây. Trọng tâm điều chỉnh nhằm hoàn thiện các quy định theo yêu cầu của Luật Tài nguyên nước và chủ trương cải cách thủ tục hành chính. Các nội dung liên quan đến thời hạn giấy phép thăm dò, khai thác; nguyên tắc, điều kiện và căn cứ cấp phép được quy định rõ ràng hơn, góp phần bảo đảm tính minh bạch, thống nhất trong áp dụng.
Bên cạnh đó, thẩm quyền trong kê khai, đăng ký, cấp phép và cấp giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất được điều chỉnh phù hợp với hệ thống pháp luật mới. Việc thống nhất giao Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định cấp giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất được xem là bước đi quan trọng nhằm nâng cao trách nhiệm quản lý tại địa phương, đồng thời rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ.
Tinh thần cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được thể hiện rõ khi quy trình cấp phép được rà soát theo hướng giảm thành phần hồ sơ, rút ngắn thời gian giải quyết. Một số hoạt động trước đây bắt buộc phải xin phép nay chuyển sang hình thức đăng ký, giúp giảm gánh nặng thủ tục cho người dân và doanh nghiệp. Đồng thời, phạm vi các trường hợp được miễn kê khai, đăng ký hoặc miễn cấp phép cũng được mở rộng, đặc biệt với hoạt động khai thác phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp hoặc thi công công trình.
Một thay đổi đáng chú ý khác là việc bãi bỏ quy định phân loại quy mô hành nghề khoan nước dưới đất theo hình thức lớn hay nhỏ. Việc xóa bỏ rào cản này tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn cho các tổ chức, cá nhân đủ điều kiện tham gia thị trường, phù hợp với định hướng thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân.
Song song với cải cách thủ tục, chủ trương phân quyền, phân cấp trong quản lý tài nguyên nước cũng được đẩy mạnh. Một số hoạt động khai thác nước mặt phục vụ phát điện, vận hành công trình thủy lợi, công trình ngăn sông, chống ngập, tạo nguồn… được giao thêm thẩm quyền cho địa phương xem xét, quyết định. Việc trao quyền nhiều hơn cho cấp tỉnh không chỉ giúp rút ngắn quy trình xử lý hồ sơ mà còn tăng tính chủ động, linh hoạt trong điều hành, phù hợp với điều kiện thực tiễn từng địa bàn.
Ngoài ra, văn bản cũng cập nhật tên gọi, chức năng của các cơ quan, đơn vị theo mô hình tổ chức bộ máy mới của Nhà nước, bảo đảm sự thống nhất trong triển khai và thi hành pháp luật.
Trong bối cảnh nhu cầu khai thác, sử dụng nguồn nước ngày càng gia tăng và yêu cầu phát triển bền vững đặt ra cấp thiết, việc ban hành Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-BNNMT được đánh giá là bước hoàn thiện quan trọng của hệ thống pháp luật về tài nguyên nước. Không chỉ tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận và thực hiện thủ tục hành chính, những điều chỉnh lần này còn góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, hướng tới khai thác hợp lý và bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên thiết yếu của quốc gia.