
Chính phủ vừa chính thức ban hành Nghị định số 68/2026/NĐ-CP nhằm hoàn thiện khung pháp lý về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh. Nghị định có hiệu lực từ ngày 5/3/2026 và áp dụng cho nhiều chủ thể liên quan, bao gồm người nộp thuế là hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh; cơ quan thuế các cấp; công chức thuế; cùng các tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế.
Một trong những nội dung đáng chú ý của nghị định là việc quy định rõ ngưỡng doanh thu chịu thuế. Theo đó, các hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh có tổng doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh trong năm không vượt quá 500 triệu đồng sẽ không phải chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT). Ngược lại, nếu doanh thu vượt mốc 500 triệu đồng mỗi năm, người kinh doanh sẽ thuộc diện phải nộp thuế GTGT và áp dụng phương pháp tính thuế trực tiếp trên doanh thu theo tỷ lệ phần trăm.
Quy định tương tự cũng được áp dụng đối với thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Cụ thể, những cá nhân kinh doanh có doanh thu trong năm ở mức 500 triệu đồng trở xuống sẽ không phải thực hiện nghĩa vụ thuế TNCN. Trong trường hợp doanh thu vượt ngưỡng này, cá nhân kinh doanh sẽ phải nộp thuế theo các quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện hành.
Nghị định cũng đưa ra cơ chế khấu trừ doanh thu trước khi xác định nghĩa vụ thuế đối với một số trường hợp đặc thù. Khi cá nhân kinh doanh hoạt động trong nhiều lĩnh vực hoặc có nhiều địa điểm kinh doanh khác nhau, người nộp thuế được phép lựa chọn ngành nghề hoặc địa điểm áp dụng mức trừ 500 triệu đồng sao cho có lợi nhất. Tuy nhiên, tổng mức được trừ trong một năm vẫn không được vượt quá 500 triệu đồng. Nếu doanh thu của ngành nghề hoặc địa điểm đã lựa chọn chưa sử dụng hết mức trừ này, phần còn lại có thể tiếp tục được khấu trừ vào doanh thu của các hoạt động kinh doanh khác.
Nguyên tắc tương tự cũng được áp dụng với cá nhân có hoạt động cho thuê bất động sản tại nhiều địa điểm. Trong trường hợp có nhiều hợp đồng cho thuê khác nhau, tổng mức khấu trừ doanh thu trong năm vẫn chỉ được tối đa 500 triệu đồng cho toàn bộ các hợp đồng.
Đối với phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân, nghị định nêu rõ hai cách tính khác nhau tùy theo quy mô doanh thu. Với các cá nhân kinh doanh có doanh thu trên 500 triệu đồng nhưng không vượt quá 3 tỷ đồng mỗi năm, thuế có thể được xác định bằng cách áp dụng thuế suất trên doanh thu tính thuế. Trong khi đó, những cá nhân có doanh thu vượt 3 tỷ đồng hoặc thuộc nhóm doanh thu từ trên 500 triệu đến 3 tỷ đồng nhưng lựa chọn phương pháp khác sẽ tính thuế dựa trên thu nhập chịu thuế. Thu nhập tính thuế được xác định bằng doanh thu sau khi đã trừ các khoản chi phí hợp lý liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh.
Bên cạnh đó, nghị định cũng quy định rõ cách xác định doanh thu đối với hộ và cá nhân kinh doanh. Theo quy định, doanh thu được hiểu là toàn bộ khoản tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh, bao gồm tiền bán hàng hóa, tiền gia công, tiền cung cấp dịch vụ và các khoản thu khác. Các khoản trợ giá, phụ thu, tiền thưởng, hỗ trợ doanh số, khuyến mại hoặc bồi thường liên quan đến hoạt động kinh doanh cũng được tính vào doanh thu, bất kể khoản tiền đó đã được thanh toán hay chưa.
Đối với một số loại hình kinh doanh mang tính đặc thù như gia công hàng hóa, bán hàng trả góp, cho thuê tài sản, vận tải hoặc hoạt động xây dựng, doanh thu sẽ được xác định theo đặc điểm riêng của từng loại hình và dựa trên giá trị thực tế phát sinh từ hoạt động kinh doanh.
Ngoài việc quy định cách xác định doanh thu, nghị định còn nêu rõ các khoản chi phí hợp lệ được trừ khi tính thu nhập chịu thuế. Những khoản chi phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp sẽ được tính vào chi phí hợp lý. Các chi phí phổ biến như nguyên liệu, hàng hóa đầu vào, tiền lương cho người lao động, bảo hiểm bắt buộc, chi phí dịch vụ mua ngoài, lãi vay phục vụ hoạt động kinh doanh và nhiều khoản chi khác liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất, kinh doanh đều có thể được khấu trừ.
Ngược lại, những khoản chi không liên quan đến hoạt động kinh doanh hoặc không có chứng từ hợp lệ sẽ không được chấp nhận khi xác định thu nhập tính thuế. Các chi phí phục vụ mục đích cá nhân, tiền phạt vi phạm hành chính hoặc vi phạm hợp đồng, cũng như chi phí khấu hao tài sản không phục vụ hoạt động kinh doanh đều bị loại trừ.
Ngoài hai sắc thuế chính là GTGT và thuế thu nhập cá nhân, nghị định cũng đề cập đến trường hợp hộ kinh doanh hoặc cá nhân kinh doanh phát sinh nghĩa vụ đối với các loại thuế khác như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên hoặc thuế bảo vệ môi trường. Trong những trường hợp này, nghĩa vụ thuế sẽ được thực hiện theo các quy định của pháp luật tương ứng với từng loại thuế.
Không chỉ dừng lại ở chính sách thuế, Nghị định 68/2026/NĐ-CP còn quy định cụ thể các thủ tục liên quan đến khai thuế, tính thuế, nộp thuế và quyết toán thuế. Văn bản cũng đề cập đến việc khấu trừ thuế, sử dụng hóa đơn điện tử cũng như cách xử lý các khoản tiền thuế nộp chậm, tiền phạt hoặc tiền nộp thừa.
Một điểm đáng chú ý khác là nghị định đặt ra trách nhiệm đối với các nền tảng thương mại điện tử và nền tảng số. Theo đó, trong một số trường hợp nhất định, các đơn vị vận hành nền tảng có trách nhiệm thực hiện việc khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay cho hộ kinh doanh hoặc cá nhân kinh doanh hoạt động trên hệ thống của mình.
Việc ban hành Nghị định 68/2026/NĐ-CP được xây dựng dựa trên các quy định của Luật Quản lý thuế năm 2025, Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2024 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025), Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2025 cùng với Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân. Với việc chính thức có hiệu lực từ ngày 5/3/2026, nghị định được kỳ vọng sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống quản lý thuế, đồng thời tăng tính minh bạch và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của hộ và cá nhân kinh doanh.