
Trong bối cảnh chính sách thuế đối với khu vực hộ và cá nhân kinh doanh chuẩn bị bước sang giai đoạn mới, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng việc yêu cầu sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế cần được cân nhắc thận trọng hơn về ngưỡng doanh thu. Theo VCCI, mức 1 tỷ đồng mỗi năm như đề xuất hiện nay là khá thấp, chưa phù hợp với điều kiện thực tế của đa số hộ kinh doanh, và nên được điều chỉnh lên mức từ 3 tỷ đồng trở lên.
Từ ngày 1/1/2026, cơ chế thuế khoán sẽ chính thức chấm dứt. Khi đó, hơn 5,2 triệu hộ và cá nhân kinh doanh trên cả nước sẽ chuyển sang hình thức tự kê khai, tự nộp thuế. Song song với thay đổi này, cơ quan quản lý đang lấy ý kiến đối với quy định buộc hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 1 tỷ đồng/năm phải sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế hoặc hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền kết nối trực tiếp với hệ thống thuế. Những hộ có doanh thu thấp hơn ngưỡng này sẽ không thuộc diện bắt buộc.
Góp ý cho dự thảo, VCCI nhận định mốc doanh thu 1 tỷ đồng chưa phản ánh đúng năng lực tài chính cũng như trình độ quản trị của phần lớn hộ kinh doanh hiện nay. Theo tổ chức này, nhiều hộ dù đạt doanh thu trên 1 tỷ đồng nhưng vẫn hoạt động ở quy mô nhỏ, quản lý theo hình thức gia đình, thiếu nguồn lực để đầu tư bài bản cho hạ tầng công nghệ và nhân sự. Vì vậy, việc áp dụng bắt buộc hóa đơn điện tử ở ngưỡng quá thấp có thể tạo thêm gánh nặng chi phí và thủ tục.
VCCI đề xuất nâng mức doanh thu bắt buộc sử dụng hóa đơn điện tử lên trên 3 tỷ đồng mỗi năm. Đây cũng là ngưỡng doanh thu tương ứng với thời điểm hộ kinh doanh bắt đầu áp dụng phương pháp tính thuế trên cơ sở lãi ròng, tức doanh thu trừ chi phí. Theo VCCI, cách tiếp cận này sẽ tạo sự đồng bộ giữa chính sách thuế và yêu cầu quản lý hóa đơn, đồng thời tránh gây áp lực chuyển đổi số quá sớm cho các hộ kinh doanh nhỏ.
Đối với nhóm hộ có doanh thu dưới 3 tỷ đồng, VCCI cho rằng cơ quan thuế hoàn toàn có thể lựa chọn các biện pháp quản lý linh hoạt hơn. Thay vì áp dụng đồng loạt nghĩa vụ sử dụng hóa đơn điện tử có mã, cơ quan quản lý có thể tăng cường giám sát thông qua việc khai thác dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau, như ngân hàng, nền tảng thanh toán, sàn thương mại điện tử hay các hệ thống liên thông dữ liệu. Cách làm này vừa đảm bảo mục tiêu quản lý, vừa giảm áp lực tuân thủ cho người nộp thuế.
Thực tế khảo sát do VCCI thực hiện vào tháng 6 vừa qua cho thấy, ngay cả nhóm hộ kinh doanh có doanh thu trên 1 tỷ đồng cũng đang đối mặt với không ít rào cản khi tiếp cận hóa đơn điện tử và chuyển đổi số. Khoảng 32% số hộ tại khu vực nông thôn và 23% tại khu vực đô thị cho biết họ thiếu vốn để đầu tư thiết bị, phần mềm và đường truyền cần thiết. Đáng chú ý, gần hai phần ba số hộ được khảo sát thừa nhận chưa có đủ kiến thức và kỹ năng công nghệ để vận hành hiệu quả các hệ thống số.
Một vướng mắc khác được VCCI chỉ ra liên quan đến yêu cầu về thông tin người mua trên hóa đơn. Theo quy định tại Nghị định 70, hóa đơn phải thể hiện mã số thuế hoặc số định danh cá nhân của người mua, trừ một số trường hợp đặc thù như khách lẻ tại siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng xăng dầu hay casino.
Quy định này, theo VCCI, có thể gây khó cho các hộ kinh doanh nhỏ như tiệm tạp hóa, quán ăn, quán cà phê, nơi số lượng khách lẻ lớn, giá trị mỗi giao dịch thấp và yêu cầu thanh toán nhanh. Việc phải thu thập và nhập thông tin định danh không chỉ làm phát sinh chi phí nhân sự, kéo dài thời gian bán hàng mà còn dễ tạo cảm giác bất tiện cho người tiêu dùng.
Từ thực tế đó, VCCI kiến nghị cho phép hóa đơn do hộ kinh doanh phát hành khi bán hàng hóa, dịch vụ cho cá nhân không kinh doanh được miễn các trường thông tin định danh như mã số thuế hay số định danh người mua. Theo VCCI, đây là giải pháp giúp đơn giản hóa thủ tục, giảm áp lực tuân thủ mà vẫn không làm suy giảm hiệu quả quản lý thuế.
Bên cạnh hóa đơn, VCCI cũng đề xuất mở rộng các khoản chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế của hộ kinh doanh. Cụ thể, tổ chức này kiến nghị bổ sung chi phí đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của chủ hộ, cùng các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và khuyến học. VCCI cho rằng đây đều là những chi phí thực tế, hợp lý, có tính chất tương đồng với các khoản giảm trừ hiện đang áp dụng khi tính thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công, và cần được xem xét áp dụng thống nhất cho khu vực hộ kinh doanh.