Từ vượt khó sang nâng giá trị: Bước chuyển mình của ngành trồng trọt ở Bắc Ninh

Năm 2025, bức tranh ngành trồng trọt tỉnh Bắc Ninh trải qua nhiều biến động do thời tiết cực đoan, hạn hán kéo dài đầu vụ và mưa bão dồn dập. Tuy nhiên, vượt lên những thách thức đó, nhiều chỉ tiêu của ngành vẫn đạt và vượt mức kế hoạch đề ra, nổi bật là sự tăng trưởng mạnh mẽ của sản lượng vải thiều.

Xung quanh những kết quả này và định hướng phát triển thời gian tới, phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Kinh tế xanh đã có cuộc trao đổi với ông Vũ Trí Đồng – Phó Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Ninh).

tt5-dong-1775119309.jpg
Ông Vũ Trí Đồng - Phó Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Ninh) trao đổi với phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Kinh tế xanh.

Phóng viên: Năm 2025 được đánh giá là một năm nhiều biến động với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là yếu tố thời tiết. Từ góc độ quản lý, ông nhìn nhận đâu là “áp lực lớn nhất” mà ngành trồng trọt đã phải đối mặt?

Ông Vũ Trí Đồng: Thực ra nếu nói một cách đầy đủ, áp lực năm qua không chỉ đến từ thời tiết. Đúng là hạn đầu vụ, rồi bão dồn dập cuối vụ đã tác động trực tiếp đến sản xuất. Nhưng cái khó hơn nằm ở sự cộng hưởng của nhiều yếu tố như: Tổ chức sản xuất sau sắp xếp đơn vị hành chính 2 cấp cần thời gian thích nghi; lao động nông nghiệp ngày càng thiếu, trong khi yêu cầu thị trường thì ngày một cao. Trong bối cảnh đó, nếu không có sự điều hành sát sao, linh hoạt từ cơ sở thì rất khó để giữ được nhịp sản xuất.

Phóng viên: Theo ông, điều gì giúp sản xuất trồng trọt vẫn giữ được nhịp tăng trưởng, thậm chí có những chỉ tiêu vượt kế hoạch?

Ông Vũ Trí Đồng: Chúng tôi cho rằng có ba yếu tố chính: Thứ nhất là sự chủ động trong chỉ đạo sản xuất – bám sát lịch thời vụ, điều chỉnh cơ cấu giống kịp thời; Thứ hai là việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật như canh tác tổng hợp (IPHM, SRI, 3 giảm, 3 tăng...), sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn (VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ) ngày càng phổ biến hơn; Và thứ ba là sự tham gia tích cực của doanh nghiệp, hợp tác xã trong liên kết tiêu thụ.

Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận thẳng là kết quả này chưa thật sự bền vững, bởi vẫn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên.

Phóng viên: Một điểm đáng chú ý là sản lượng vải thiều tăng rất mạnh so với năm trước. Theo ông, yếu tố nào mang tính quyết định – là thời tiết, kỹ thuật canh tác hay cách tổ chức sản xuất?

Ông Vũ Trí Đồng: Đúng là sản lượng vải thiều năm 2025 của tỉnh Bắc Ninh đạt mức cao kể từ trước cho đến nay. Nhưng nếu nhìn kỹ, đây là kết quả của nhiều yếu tố cộng hưởng: thời tiết ở giai đoạn quyết định khá thuận lợi cho quá trình sinh trưởng phát triển ra hoa và đậu quả, diện tích vải sớm được mở rộng, kỹ thuật chăm sóc được cải thiện và đặc biệt là công tác tiêu thụ được chuẩn bị tốt hơn.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng rất thận trọng. Bởi nếu chỉ dựa vào sản lượng mà không đi kèm nâng cao chất lượng, chế biến và thị trường thì rủi ro vẫn còn đó.

tt7-1775120819.jpg
Năm 2025, sản lượng vải thiều của tỉnh Bắc Ninh là 206.126 tấn – đạt mức cao kể từ trước cho đến nay.

Phóng viên: Thưa ông, có thể thấy xu hướng mở rộng diện tích lúa chất lượng, sản xuất theo tiêu chuẩn GAP, hữu cơ đang rõ nét hơn. Đây là chuyển dịch mang tính tự phát của người dân hay đã nằm trong một chiến lược dài hạn?

Ông Vũ Trí Đồng: Đây là định hướng đúng đắn của tỉnh Bắc Ninh. Các chính sách hỗ trợ giống, khuyến khích sản xuất an toàn đã tạo lực đẩy ban đầu. Nhưng quan trọng hơn là người dân đã bắt đầu thay đổi tư duy – họ nhận ra rằng làm nông nghiệp không chỉ là sản lượng, mà là giá trị.

Dù vậy, sự chuyển dịch này chưa đồng đều. Vẫn còn nhiều nơi sản xuất manh mún, chưa tham gia vào chuỗi liên kết.

Phóng viên: Việc phát triển vùng sản xuất tập trung, liên kết theo chuỗi giá trị đã đi được đến đâu? Liệu đã hình thành được những “chuỗi thực chất”, hay vẫn chủ yếu ở mức thí điểm?

Ông Vũ Trí Đồng: Bước đầu trên đại bàn tỉnh đã hình thành một số mô hình sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn trong lĩnh vực trồng trọt theo chuỗi đa giá trị cho hiệu quả cao hơn sản xuất đại trà từ 20–30%. Tuy nhiên số lượng các mô hình chưa nhiều, nguyên nhân nằm ở chỗ liên kết vẫn thiếu bền chặt, vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp chưa rõ nét, còn người dân thì vẫn quen với cách làm riêng lẻ.

Phóng viên: Theo thực tế hiện nay, tình trạng buôn bán vật tư nông nghiệp qua mạng xã hội, sàn thương mại điện tử ngày càng phức tạp. Vậy theo ông, công tác quản lý hiện đang “vướng” ở đâu?

Ông Vũ Trí Đồng: Khó nhất là ở chỗ hình thức kinh doanh này rất linh hoạt, khó kiểm soát. Trong khi đó, lực lượng quản lý lại chưa được trang bị đầy đủ về kỹ năng, công cụ để giám sát trên môi trường số.

Nếu không sớm có giải pháp, đây sẽ là “khe hở” lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Phóng viên: Câu chuyện mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói – vốn là “tấm vé” để nông sản đi xa, hiện vẫn tồn tại tình trạng cho mượn, sử dụng chưa đúng quy định. Điều này đáng lo đến mức nào?

Ông Vũ Trí Đồng: Rất đáng lo. Bởi đây là điều kiện bắt buộc để nông sản đi vào các thị trường xuất khẩu. Nếu quản lý không chặt, để xảy ra tình trạng sử dụng sai hoặc cho mượn mã số, không chỉ ảnh hưởng đến một doanh nghiệp mà có thể tác động đến uy tín cả ngành hàng xuất khẩu nông sản của Việt Nam nói chung và của tỉnh Bắc Ninh nói riêng.

tt3-1775119896.jpg
Nhiều mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn (VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ) ngày càng phổ biến hơn.

Phóng viên: Bước sang năm 2026, bối cảnh được dự báo vẫn nhiều thách thức. Theo ông, đâu là những áp lực lớn nhất mà ngành trồng trọt sẽ phải đối diện?

Ông Vũ Trí Đồng: Biến đổi khí hậu dẫn đến thời tiết cực đoan vẫn là yếu tố khó lường. Xung đột quân sự giữa các quốc gia trên thế giới, gây đứt gẫy chuỗi cung ứng toàn cầu. Bên cạnh đó là áp lực từ thị trường – yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc ngày càng cao. Và một vấn đề mang tính dài hạn là thiếu hụt lao động nông nghiệp, nhất là lao động chất lượng cao.

Phóng viên: Việc mở rộng địa giới hành chính được kỳ vọng tạo dư địa phát triển mới. Cơ hội này sẽ được cụ thể hóa như thế nào trong tổ chức sản xuất?

Ông Vũ Trí Đồng: Điểm quan trọng nhất là có thể tổ chức lại sản xuất theo quy mô lớn hơn. Khi diện tích đủ lớn, việc áp dụng cơ giới hóa, công nghệ cao ứng dụng công nghệ nhân tạo AI vào trong sản xuất, sản xuất đạt các tiêu chuẩn an toàn sẽ giúp cho việc xây dựng vùng nguyên liệu phục vụ cho việc chế biến sâu nông sản sẽ thuận lợi hơn rất nhiều.

Phóng viên: Để nâng cao giá trị nông sản, theo ông, khâu nào cần được ưu tiên đột phá trước: sản xuất, chế biến hay thị trường?

Ông Vũ Trí Đồng: Chúng tôi cho rằng đó là chế biến sâu và bảo quản nông sản sau thu hoạch. Hiện nay, phần lớn nông sản vẫn tiêu thụ ở dạng thô, giá trị gia tăng thấp. Nếu không giải quyết được khâu này, rất khó nâng giá trị một cách bền vững.

Phóng viên: Nếu nhìn xa hơn, ông kỳ vọng diện mạo ngành trồng trọt địa phương trong 5 năm tới sẽ thay đổi theo hướng nào?

Ông Vũ Trí Đồng: Chúng tôi kỳ vọng sẽ hình thành rõ nét hơn một nền nông nghiệp đa giá trị – không chỉ sản xuất mà còn gắn với chế biến, dịch vụ, du lịch nông nghiệp. Sản xuất sẽ tập trung hơn, ứng dụng công nghệ cao nhiều hơn, và quan trọng nhất là giá trị trên một đơn vị diện tích sẽ được nâng lên, sản xuất an toàn, bảo vệ môi trường sinh thái.

Trân trọng cảm ơn ông!

Nhìn lại năm 2025, có thể thấy ngành trồng trọt đã “giữ được nhịp” trong một bối cảnh nhiều biến động. Nhưng bước sang giai đoạn tới, câu chuyện không còn dừng ở việc vượt khó. Bài toán đặt ra lúc này rõ ràng hơn: làm thế nào để mỗi mùa vụ không chỉ là sản lượng, mà thực sự tạo ra giá trị gia tăng cao – ổn định, bảo vệ môi trường bền vững và có khả năng cạnh tranh./.

Theo báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2025 của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Ninh):

  • Tổng diện tích gieo trồng: 220.804 ha
  • Sản lượng lúa: 892.431 tấn (lúa chất lượng chiếm 88.820 ha)
  • Sản lượng vải thiều: 206.126 tấn – cao nhất nhiều năm gần đây
  • Tổng diện tích cây ăn quả: 53.764 ha
  • Thiệt hại do sâu bệnh: ~0,3% (giảm 0,16% so với 2024)
  • Chuyển đổi cơ cấu cây trồng: 477,88 ha đất lúa
  • Mã số vùng trồng xuất khẩu: 312 mã (18.477 ha)
  • Cơ sở đóng gói đạt chuẩn: 46 cơ sở
  • Kiểm tra vật tư nông nghiệp: 192 cơ sở; xử phạt 21,56 triệu đồng
  • Hỗ trợ giống lúa chất lượng: hơn 915 tấn, tương ứng gần 28.000 ha.

 

Đăng ký đặt báo