Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững ngày càng trở nên cấp thiết, việc nghiên cứu và chuyển giao các giải pháp khoa học – công nghệ đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Viện Nghiên cứu, Ứng dụng Xử lý Môi trường (IET) - thành viên Hiệp hội Đầu tư xây dựng-dịch vụ nông, lâm nghiệp Việt Nam, là một tổ chức khoa học và công nghệ hoạt động trong các lĩnh vực xử lý môi trường, nông nghiệp hữu cơ, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính. Từ khi thành lập đến nay, IET đã từng bước triển khai nhiều chương trình nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ cho các địa phương.
Phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Kinh tế xanh đã có cuộc trao đổi với PGS.TS. Lê Văn Hưng - Viện trưởng Viện Nghiên cứu, Ứng dụng Xử lý Môi trường về các hoạt động của viện trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học cũng như chuyển giao công nghệ.

Cầu nối giữa nghiên cứu khoa học và ứng dụng thực tiễn
Phóng viên: Thưa ông, IET được thành lập trong bối cảnh nào và đang thực hiện những chức năng, nhiệm vụ chính gì?
PGS.TS. Lê Văn Hưng: IET được thành lập theo Quyết định số 14/QĐ-TWHH ngày 18/7/2019 của Hiệp hội Đầu tư xây dựng-dịch vụ nông, lâm nghiệp Việt Nam và được Bộ Khoa học và Công nghệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ vào năm 2020.
Ngay từ khi thành lập, chúng tôi xác định rõ mục tiêu của IET là nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ khoa học-công nghệ nhằm góp phần xử lý các vấn đề môi trường, thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ và hướng tới nền kinh tế tuần hoàn, phát triển bền vững.
Hiện nay, IET thực hiện ba nhóm chức năng chính: Thứ nhất là nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tập trung vào các lĩnh vực như xử lý ô nhiễm môi trường, công nghệ vi sinh, xử lý chất thải trong chăn nuôi và phát triển các mô hình nông nghiệp hữu cơ.
Thứ hai là tư vấn và chuyển giao công nghệ, bao gồm tư vấn kỹ thuật môi trường, đánh giá tác động môi trường, chuyển giao các giải pháp công nghệ xử lý chất thải và cải tạo môi trường sản xuất.
Thứ ba là đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn, đặc biệt trong các lĩnh vực bảo vệ môi trường, nông nghiệp hữu cơ, kiểm kê khí nhà kính và quản lý tài nguyên môi trường.
Thông qua các hoạt động này, IET hướng tới việc kết nối giữa nghiên cứu khoa học với thực tiễn sản xuất, giúp các địa phương và doanh nghiệp ứng dụng hiệu quả các tiến bộ khoa học-công nghệ.
Xây dựng đội ngũ khoa học đa ngành
Phóng viên: Xin ông cho biết thêm về cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực của IET hiện nay?
PGS.TS. Lê Văn Hưng: Hiện nay, IET được tổ chức theo mô hình linh hoạt nhằm phát huy tối đa năng lực nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Cơ cấu tổ chức của IET gồm 01 Viện trưởng, 05 Phó Viện trưởng và các phòng chuyên môn.
Các đơn vị chuyên môn của IET bao gồm: Phòng Công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường; Phòng Sản xuất sản phẩm an toàn và nông nghiệp hữu cơ, đa dạng sinh học; Phòng Hành chính và Điều tra sinh khối rừng, tín chỉ carbon; Phòng Kiểm kê khí nhà kính và kinh tế năng lượng.
Về nhân lực, hiện IET có 22 cán bộ khoa học, trong đó có 2 Phó Giáo sư-Tiến sĩ, 10 Tiến sĩ cùng nhiều thạc sĩ, kỹ sư và chuyên gia trong các lĩnh vực môi trường, sinh học, nông nghiệp và kinh tế.
Điểm đặc biệt của IET là đội ngũ cán bộ được tập hợp từ nhiều nguồn khác nhau như các trường đại học, viện nghiên cứu và cơ quan quản lý nhà nước. Nhờ đó, IET có khả năng tiếp cận các vấn đề môi trường và nông nghiệp theo hướng đa ngành, từ nghiên cứu khoa học đến triển khai thực tiễn.

Nhiều kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ
Phóng viên: Trong thời gian qua, IET đã đạt được những kết quả nổi bật nào trong hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ?
PGS.TS. Lê Văn Hưng: Trong hơn 5 năm qua, IET đã triển khai nhiều hoạt động nghiên cứu, đào tạo và hợp tác khoa học với các địa phương và tổ chức trong và ngoài nước. Một trong những kết quả đáng chú ý là việc tham gia các dự án khoa học và phát triển liên quan đến nông nghiệp hữu cơ và môi trường, tiêu biểu như dự án “Tăng cường cơ cấu sản xuất và thị trường cho các sản phẩm hữu cơ tại Việt Nam (MOAP)” do tổ chức ADDA tài trợ.
Bên cạnh đó, IET cũng tham gia dự án “Ứng dụng khoa học kỹ thuật xây dựng mô hình sản xuất rau hữu cơ tại thành phố Đà Nẵng” do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý. Dự án này đã xây dựng thành công hai mô hình sản xuất rau hữu cơ, gồm: Mô hình sản xuất rau hữu cơ ngoài đồng ruộng quy mô 3 ha; mô hình sản xuất rau hữu cơ trong nhà lưới quy mô 0,5 ha.
Thông qua dự án, các đơn vị tham gia đã tiếp nhận 5 nhóm quy trình kỹ thuật canh tác hữu cơ, bao gồm quy trình sản xuất phân hữu cơ, chế phẩm sinh học phòng trừ sâu bệnh, quy trình sản xuất các nhóm rau hữu cơ, quy trình luân canh cây họ đậu và quy trình thu hoạch-bảo quản sản phẩm.
Đặc biệt, tổng sản lượng rau của hai mô hình đạt khoảng 170 tấn, tương đương 91,8% so với mục tiêu đề ra, trong đó nhiều nhóm rau ăn lá đạt năng suất vượt kế hoạch. Ngoài ra, IET cũng tích cực tham gia các hội thảo khoa học, chương trình truyền thông về bảo vệ môi trường và tổ chức nhiều khóa đào tạo cho các địa phương về kiểm kê khí nhà kính, sản xuất nông nghiệp hữu cơ và ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp.
Hướng tới các giải pháp môi trường và nông nghiệp bền vững
Phóng viên: Trong thời gian tới, IET sẽ tập trung vào những định hướng nghiên cứu và phát triển nào?
PGS.TS. Lê Văn Hưng:Trong giai đoạn tới, IET xác định ba hướng ưu tiên chính.
Thứ nhất là nghiên cứu và triển khai các mô hình xử lý ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi, đặc biệt là xử lý chất thải chăn nuôi lợn nhằm giảm phát thải khí nhà kính và cải thiện môi trường nông thôn.
Thứ hai là phát triển các mô hình nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp sinh thái, đồng thời xây dựng các bộ tài liệu đào tạo kỹ thuật cho các cây trồng chủ lực như lúa, chuối, dứa và cây dược liệu.
Thứ ba là đẩy mạnh nghiên cứu về tín chỉ carbon và kiểm kê khí nhà kính, góp phần hỗ trợ các địa phương và doanh nghiệp thực hiện các cam kết giảm phát thải trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.
Song song với đó, IET cũng sẽ tăng cường hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp trong và ngoài nước để nâng cao năng lực nghiên cứu, cũng như mở rộng các hoạt động chuyển giao công nghệ.
Chúng tôi kỳ vọng rằng các kết quả nghiên cứu của Viện sẽ góp phần thiết thực vào việc giải quyết các vấn đề môi trường, thúc đẩy phát triển nông nghiệp xanh và xây dựng nền kinh tế bền vững tại Việt Nam.
Xin trân trọng cảm ơn PGS.TS.