
Trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk hiện có 25 công trình thủy điện, trong đó 3 thủy điện thuộc lưu vực sông Ba. Các công trình thủy điện trên lưu vực sông Ba, vào mùa mưa được vận hành theo nguyên tắc ưu tiên an toàn công trình, góp phần giảm lũ cho hạ du, đảm bảo hiệu quả cấp nước, phát điện và dòng chảy tối thiểu trên lưu vực sông. Vào mùa cạn, việc vận hành theo nguyên tắc bảo đảm an toàn công trình, đảm bảo nhu cầu sử dụng nước ở hạ du và dòng chảy tối thiểu, đảm bảo hiệu quả cấp điện.
Thuỷ điện Sông Ba Hạ nằm trên địa bàn hai tỉnh Gia Lai và Đắk Lắk, do đó hằng năm Cục kỹ thuật an toàn môi trường - Bộ Công Thương chủ trì phối hợp với các chuyên gia, đơn vị có liên quan tổ chức kiểm tra, đánh giá an toàn hồ đập thuỷ điện trước mùa mưa bão.
Sau đợt mưa lũ vừa qua, thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh Đắk Lắk, Sở Công Thương đã tiến hành kiểm tra tình hình vận hành các công trình thủy điện trên lưu vực sông Ba. Qua kiểm tra, các nhà máy thủy điện báo cáo đã thực hiện đúng quy trình vận hành hồ chứa, chấp hành nghiêm các chỉ đạo lệnh vận hành trong suốt quá trình xảy ra lũ.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk ông Nguyễn An Phú cho biết: Đối với cơ quan quản lý Nhà nước, chúng tôi đã tham mưu các văn bản chỉ đạo gửi Tỉnh uỷ, UBND tỉnh triển khai về địa phương về phòng chống bão lũ. Nguyên nhân khó khăn, theo tôi có một số nội dung như năng lực hồ chứa của địa phương còn nhỏ, trong khi lượng mưa lớn và cao tốc Bắc - Nam làm đê chặn dòng chảy. Đặc biệt bất lợi khi trong tháng 11/2025 triều cường diễn ra từ 20-21h khi lượng mưa đang lớn.
Địa phương đề xuất Trung ương sớm nghiên cứu quy trình vận hành hồ chứa, đầu tư hệ thống quan trắc, mô hình tính toán AI để chính xác hơn. Ngoài ra, phải sớm xây dựng chế độ vận hành nghiêm ngặt; sớm kiểm soát, điều hành chặt chẽ vì sông đi qua nhiều tỉnh, thành. Không những vậy, các chủ hồ chứa cần cập nhật tình hình phòng chống thiên tai và phải có chế tài với các chủ hồ chứa.

Phó Chủ tịch Thường trực Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam GS, TS. Nguyễn Quốc Dũng cho biết: Dưới góc độ chuyên môn, thủy điện không phải là "vị cứu tinh" tuyệt đối nhưng chắc chắn không phải là "thủ phạm" gây lũ. Thực tế, hồ chứa là công cụ kỹ thuật chiến lược có khả năng cắt giảm từ 60-90% đỉnh lũ, tạo ra "giờ vàng" quý giá cho hạ du sơ tán. Hiện tượng "lũ chồng lũ" thường bị hiểu lầm, thực chất nó bắt nguồn từ các hình thái thiên tai cực đoan liên tiếp.
Khi hồ đã đầy, để bảo vệ an toàn đập, buộc phải vận hành xả lượng nước bằng lượng nước đổ về (Qxả=Qđến). Áp lực này khi cộng hưởng với đỉnh lũ sông nhánh và triều cường trong điều kiện lòng sông thoát lũ hạn chế sẽ khiến nước dâng nhanh. Để tối ưu hóa mặt tích cực, chúng ta cần chuyển dịch sang quản trị thông minh bằng cách minh bạch hóa dữ liệu qua hệ thống hỗ trợ ra quyết định (DSS) và quản lý rủi ro tổng thể toàn lưu vực thay vì chỉ tập trung vào thân đập.
Để giải bài toán này, cần chuyển từ tư duy mệnh lệnh hành chính sang cơ chế "đối tác chia sẻ rủi ro" dựa trên 3 trụ cột.
Thứ nhất, lấy công nghệ làm "trọng tài" qua hệ thống hỗ trợ ra quyết định (DSS) và bản đồ ngập lụt động để người dân giám sát trực tiếp, xóa bỏ nghi ngờ và chủ động ứng phó.
Thứ hai, xây dựng thể chế linh hoạt cho doanh nghiệp bằng cách cho phép hạ mực nước hồ đón lũ sớm trước 72 giờ để giảm sốc lũ cho hạ du, đồng thời áp dụng cơ chế "tích nước bù" để đảm bảo kinh tế cho hồ chứa.
Thứ ba, Nhà nước cần đóng vai trò điều tiết hạ tầng thông qua việc nạo vét luồng lạch cửa sông và thúc đẩy bảo hiểm rủi ro thiên tai. Sự hài hòa chỉ đạt được khi doanh nghiệp coi cắt lũ là trách nhiệm lâu dài, người dân tin tưởng hồ chứa là "lá chắn" và Nhà nước dùng công nghệ để điều phối công bằng.

Theo GS.TS Nguyễn Quốc Dũng, để hài hòa lợi ích giữa thủy điện, phòng chống lũ và bảo đảm an toàn cho người dân, cần thay đổi căn bản tư duy vận hành và quản lý hồ chứa theo hướng khoa học, linh hoạt và hiện đại.
Dẫn kinh nghiệm của Trung Quốc và Nhật Bản, GS Dũng cho biết các quốc gia này có hệ thống pháp luật rõ ràng, quy trình vận hành bài bản và ứng dụng mạnh mẽ khoa học – công nghệ. Vận hành hồ chứa hiện đại không đòi hỏi mọi số liệu đầu vào phải tuyệt đối chính xác, mà quan trọng là xử lý dữ liệu tổng hợp, đánh giá xu thế và ra quyết định sớm. Theo ông cần chủ động hạ mực nước đón lũ, thay vì chờ có lũ mới xả.
Tuy nhiên, việc hạ mực nước hồ chứa tác động đến nhiều bên liên quan, từ doanh nghiệp thủy điện đến người dân vùng hạ du, do đó phải cân bằng lợi ích, tránh vận hành theo các quy trình cứng nhắc. GS Dũng cho rằng cần tiếp cận đồng bộ trên nhiều phương diện như thể chế, kỹ thuật, an ninh đập, con người và nguồn lực tài chính, trong đó vai trò kiến tạo của Nhà nước và thể chế linh hoạt là yếu tố then chốt.
Bên cạnh đó, cần xây dựng bản đồ ngập lụt cho các kịch bản xả lũ lớn, vỡ đập, chuẩn bị phương án ứng phó với tình huống xấu nhất. Thực tế cho thấy, nhiều địa phương vẫn lúng túng khi xảy ra mất điện, mất liên lạc; công tác diễn tập còn hình thức, chưa sát thực tế.
Đặc biệt, GS Dũng nhấn mạnh việc xem xét mua bảo hiểm cho các đập có rủi ro cao, dựa trên đánh giá rủi ro cụ thể. Đây không chỉ là giải pháp chia sẻ áp lực cho chủ đập khi xảy ra sự cố, mà còn là công cụ quản trị rủi ro cần thiết trong bối cảnh thiên tai ngày càng cực đoan.

Phó Tổng biên tập Báo Tiền Phong Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến cho biết, Việt Nam vừa trải qua một trong những năm thiên tai khốc liệt nhất khi 3/4 đất nước hứng chịu mưa lũ lịch sử với những hậu quả vô cùng nặng nề và tang thương. Thiên tai làm 468 người chết và mất tích, thiệt hại kinh tế ước tính gần 100.000 tỉ đồng. “Thực tế khốc liệt đó nhắc chúng ta rằng, biến đổi khí hậu tác động ngày càng rõ rệt hơn, các hiện tượng thời tiết cực đoan đang diễn ra với tần suất cao hơn, cường độ mạnh hơn và diễn biến khó lường hơn. Những trận mưa lớn kỷ lục, lũ chồng lũ, bão mạnh xuất hiện trái quy luật đã đặt hệ thống hạ tầng phòng chống thiên tai, trong đó có các công trình thuỷ điện, trước những thách thức chưa từng có tiền lệ”.