Linh hoạt thời vụ, thích ứng điều kiện vùng cao
Do đặc thù địa hình đồi núi cao, nhiều khu vực canh tác phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nước tự nhiên, việc bố trí thời vụ tại các xã vùng cao không thể áp dụng cứng nhắc theo khung chung. Vì vậy, ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh đã chỉ đạo các địa phương căn cứ điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và nguồn nước của từng vùng để xây dựng lịch gieo trồng linh hoạt, phù hợp với thực tế sản xuất.

Ngay từ cuối năm trước, kế hoạch sản xuất vụ Xuân đã được ban hành với những định hướng cụ thể về cơ cấu cây trồng, thời vụ và giải pháp kỹ thuật. Các địa phương chủ động triển khai công tác làm đất, tu sửa kênh mương, nạo vét dòng chảy và kiểm tra hệ thống hồ chứa, đập dâng nhằm bảo đảm nguồn nước phục vụ gieo trồng.
Đối với những vùng cao thiếu nước, chính quyền địa phương khuyến khích người dân tận dụng ao hồ nhỏ, khe suối để tích trữ nước, đồng thời phát huy hiệu quả các công trình thủy lợi nội đồng và mô hình hồ treo thu trữ nước trên sườn núi giải pháp đang được đánh giá phù hợp với điều kiện địa hình đặc thù của khu vực Cao nguyên đá.
Bên cạnh đó, việc lựa chọn cơ cấu giống cây trồng cũng được chú trọng nhằm tăng khả năng thích ứng với điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Nhiều giống lúa ngắn ngày, có khả năng chống chịu rét và sâu bệnh tốt được khuyến cáo đưa vào sản xuất như: Tạp giao 1, Nhị ưu 838, Cương ưu 725, Kinh sở ưu 1588, Việt lai 20 thế hệ mới, Thái Xuyên 111, MHC2, HKT99, Lai thơm 6, J02, ĐS1, Bắc Thơm số 7, BC15, Thiên ưu 8…
Song song với đó, cán bộ khuyến nông thường xuyên bám sát cơ sở, hướng dẫn nông dân áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật như gieo mạ khay, cấy máy, sử dụng giống xác nhận và áp dụng quy trình “1 phải, 5 giảm”. Những giải pháp này không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất mà còn nâng cao năng suất, hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường.
Theo thống kê đến ngày 6/3/2026, toàn tỉnh đã gieo trồng được 22.921 ha lúa, đạt 85,1% kế hoạch; 10.396 ha ngô, đạt 27,3% kế hoạch. Ngoài ra, toàn tỉnh đã trồng được 2.769 ha lạc và trên 1.000 ha rau, đậu các loại. Tỉnh phấn đấu duy trì tổng sản lượng lương thực có hạt (lúa, ngô) đạt trên 75 vạn tấn, góp phần bảo đảm an ninh lương thực và ổn định sinh kế cho người dân.

Ông Giang Đức Hiệp, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh cho biết, lịch thời vụ gieo trồng vụ Xuân năm nay được tính toán sát với điều kiện khí hậu từng vùng. Đối với cây lúa, các địa phương chỉ đạo gieo mạ tập trung, sử dụng nilon che phủ chống rét và tuyệt đối không gieo cấy khi nhiệt độ xuống dưới ngưỡng cho phép.
Cùng với đó, cán bộ khuyến nông thường xuyên bám sát cơ sở, hướng dẫn nông dân áp dụng kỹ thuật làm mạ khay, cấy máy nhằm giảm chi phí lao động, bảo đảm mật độ đồng đều và giúp cây lúa sinh trưởng tốt. Nhiều địa phương cũng triển khai mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ, VietGAP, áp dụng quy trình “1 phải, 5 giảm” gồm: phải sử dụng giống xác nhận; giảm lượng giống gieo, giảm phân đạm, giảm thuốc bảo vệ thực vật, giảm lượng nước tưới và giảm thất thoát sau thu hoạch.
Gắn sản xuất với liên kết chuỗi và nâng cao giá trị nông sản
Trong bối cảnh thị trường nông sản ngày càng cạnh tranh, việc nâng cao giá trị sản xuất không chỉ dừng ở năng suất mà còn cần gắn với chuỗi liên kết tiêu thụ. Vì vậy, ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tuyên Quang đang đẩy mạnh phát triển các mô hình sản xuất tập trung, hình thành vùng nguyên liệu gắn với doanh nghiệp và hợp tác xã.

Nhiều mô hình “cánh đồng lớn” đã được triển khai, trong đó doanh nghiệp cung ứng giống, vật tư đầu vào và bao tiêu sản phẩm đầu ra cho nông dân. Cách làm này không chỉ giúp ổn định đầu ra mà còn tạo điều kiện để nông dân tiếp cận với quy trình sản xuất tiên tiến, hướng tới sản xuất nông nghiệp bền vững.
Tại thôn Tân An, xã Quang Bình, gia đình bà Hoàng Thị Dinh đã mạnh dạn mở rộng diện tích gieo cấy giống lúa Tẻ nương Hà Giang trên hơn 2.100 m² ruộng. Sau khi thử nghiệm thành công trong vụ trước với năng suất cao và chất lượng gạo tốt, vụ Xuân năm nay gia đình tiếp tục mở rộng diện tích canh tác.
Theo ông Hoàng Mạnh Cường, Phó Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp số Bắc Quang, để khuyến khích nông dân tham gia mô hình sản xuất liên kết, hợp tác xã đã hỗ trợ toàn bộ giống lúa cho người dân thôn Tân An. Đồng thời, hợp tác xã cam kết thu mua toàn bộ sản lượng lúa với giá ổn định để sản xuất lúa giống cung ứng ra thị trường.
“Việc liên kết sản xuất giúp nông dân yên tâm đầu tư thâm canh, không còn lo ngại tình trạng được mùa mất giá”, ông Cường cho biết.
Song song với đó, công tác phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng được tăng cường. Ngành chuyên môn thường xuyên theo dõi, dự báo sớm các đối tượng sâu bệnh nguy hiểm như rầy nâu, bệnh đạo ôn hay sâu cuốn lá nhỏ để hướng dẫn người dân phòng trừ kịp thời, hạn chế thiệt hại và giảm thiểu việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động rõ rệt đến sản xuất nông nghiệp, việc xây dựng mô hình canh tác thích ứng đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Những giải pháp như sử dụng giống thích nghi tốt, tiết kiệm nước tưới, sử dụng chế phẩm sinh học và phát triển sản xuất theo hướng VietGAP, hữu cơ đang từng bước được nhân rộng.
Với sự chủ động của ngành chuyên môn, sự vào cuộc của chính quyền địa phương và tinh thần tích cực của người nông dân, sản xuất vụ Xuân năm 2026 tại tỉnh Tuyên Quang đang được triển khai đúng tiến độ, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển nông nghiệp bền vững trong điều kiện địa hình vùng cao nhiều thách thức./.