Không ai biết chính xác tục cúng ông Công, ông Táo có từ bao giờ, chỉ biết rằng nó tồn tại từ rất lâu. Theo truyền thuyết kể lại, ông Công là vị thần cai quản đất đai trong nhà, còn ông Táo là ba vị đầu rau trông coi việc bếp núc.
Theo truyền thuyết, Ông Công, ông Táo được ông Trời phái xuống trần gian theo dõi và ghi chép những việc làm Thiện - Ác của con người. Và hằng năm, cứ vào ngày 23 tháng Chạp, các vị táo quân này lại cưỡi cá chép lên Thiên đình báo cáo tất cả việc làm tốt và chưa tốt của con người trong suốt một năm qua để Thiên đình định đoạt công, tội.
Đồ lễ để cúng ông Công, ông Táo thường có một bộ mã ông Công và ba bộ mã ông Táo. Ngoài ra còn có hương, hoa, oản, quả, cau, trầu; cùng một mâm cỗ được chuẩn bị cẩn thận, đầy đủ với xôi, gà, giò, nem, canh măng miến... Tuy nhiên, thực tế tùy theo khả năng của từng gia đình, các gia đình có thể cúng mâm cỗ chay.
Lễ cúng ông Táo thường được tiến hành trước 12 giờ trưa ngày 23 tháng Chạp Âm lịch (có thể cúng vào trưa, tối ngày 22 tháng Chạp hoặc sáng 23 tháng Chạp) bởi dân gian quan niệm sau 12 giờ trưa là ông Táo lên chầu trời nên sẽ không nhận được đồ cúng.
Lễ cúng Táo quân gắn với sự tích ông Táo với nhiều dị bản. Các thư tịch cổ liên quan đều cho rằng tập quán này có nguồn từ tục thờ "Ngũ tự", để trả công cho 5 vị thần trong gia đình: thần Cổng (Môn thần), thần Cửa (Hộ thần), thần Cửa sổ (Trung lưu thần), thần Bếp (Táo thần) và thần Đường đi trong nhà (Hành thần).
Lại có thuyết khác nói "Ngũ tự" gồm 5 vị: thần Bếp (Táo thần), thần Giếng (Tĩnh thần), thần Cửa (Môn thần), thần Nhà (Hộ thần), thần Cửa sổ (Trung lưu thần) hoặc 5 vị: thần Bếp (Táo thần), thần Đất (Thổ công), tổ nghề (Tiên sư), thần cửa (Môn gia hộ úy), thần bảo hộ sức khỏe con người và vật nuôi (nhân súc Y thần)... Trong 5 vị gia thần, Táo quân, Thổ địa và Môn thần được thờ cúng phổ biến nhất. Táo quân được coi là vị thần chủ về phúc đức trong gia đình với tên gọi đầy đủ là "Đông trù tư mệnh Táo phủ thần quân".
Trong "Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam" của Nguyễn Đổng Chi, sự tích ba ông đầu rau nói về nguồn gốc "vua bếp hai ông một bà" gồm người vợ là Thị Nhi (Nhi nghĩa là nhừ, chín nhừ), người chồng trước là Trọng Cao (Cao nghĩa là tinh bột, ám chỉ gạo) và người chồng sau là Phạm Lang (Lang còn có âm đọc là Canh - món canh).
Khi "cơm không lành, canh không ngọt", cả ba người gặp bi kịch mà phải chịu thân phận đen đủi, lem luốc của ba ông đầu rau. Họ hóa thân cho bếp lửa gia đình luôn ấm cúng. Có lẽ từ ý nghĩa này mà dân gian gọi Táo quân là vị thần định phúc, quản về nhân sự trong gia đình.
Từ đó, hàng năm vào ngày 23 tháng Chạp, các gia đình làm lễ tiễn Táo quân về chầu Ngọc hoàng, gọi là Tết Táo quân. Lâu dần có nơi tổ chức lễ cúng Táo quân vào ba ngày khác nhau. Vua quan cúng ngày 23, thứ dân cúng ngày 24 và những người làm nghề chài lưới, ngư dân cúng vào ngày 25. Gần đây có thể cúng Táo quân từ ngày 17 đến ngày 23 tháng Chạp.
Cũng theo truyền thuyết, cá chép là phương tiện duy nhất đưa táo công về trời. Vì thế lễ nghi phóng sinh thả cá chép rất được dân gian tôn trọng. Thực hiện lễ cúng ông Công ông Táo và thả cá chép đưa táo quân về trời là mong ước một năm mới gia đình được an khang, mọi việc hanh thông và và hạnh phúc./.