
Từ tự động hóa đến quản trị bằng dữ liệu
Ngày 23/9, tỉnh Tây Ninh tổ chức Hội nghị “Giới thiệu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, thương mại điện tử và ứng dụng giải pháp số trong phát triển sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm đặc trưng tỉnh Tây Ninh năm 2026”, yêu cầu nâng giá trị nông sản gắn với công nghệ, dữ liệu, tiêu chuẩn sản xuất và khả năng kết nối thị trường.
Với sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, bài toán công nghệ không chỉ nằm ở việc tăng năng suất mà còn ở khả năng kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất.
Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Hùng Nhơn, cho rằng khi quy mô trang trại và đàn vật nuôi tăng lên, phương thức quản lý dựa chủ yếu vào kinh nghiệm không còn đủ để kiểm soát toàn bộ chuỗi. Từ con giống, thức ăn, chăn nuôi, an toàn sinh học đến giết mổ, chế biến và thị trường cần được kết nối trong một hệ thống thống nhất.

Thực tế tại doanh nghiệp cho thấy, công nghệ trước hết được đưa vào để giải quyết những vấn đề cụ thể tại trang trại như kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm, môi trường, thức ăn, nước uống và giảm sự phụ thuộc vào điều kiện thời tiết. Sau tự động hóa, yêu cầu đặt ra là quản trị bằng dữ liệu.
Các thông tin về môi trường chuồng nuôi, dinh dưỡng, thuốc, vaccine, sức khỏe vật nuôi và chỉ số sản xuất được ghi nhận có hệ thống. Đây là cơ sở để phát hiện sớm bất thường, kiểm soát rủi ro, nâng chất lượng và phục vụ truy xuất nguồn gốc. “Công nghệ giúp chúng ta kiểm soát tốt hơn, còn dữ liệu giúp chứng minh quá trình sản xuất đã được kiểm soát như thế nào”, ông Hùng chia sẻ.
Tuy nhiên, công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi được đặt trong một quy trình sản xuất phù hợp và có sự tham gia của con người. Đặc biệt với chăn nuôi quy mô lớn, an toàn sinh học phải được kiểm soát xuyên suốt từ con giống, thức ăn, nguồn nước, vệ sinh, khử trùng đến người và phương tiện ra vào trang trại.
Tại Tây Ninh, Hùng Nhơn và De Heus xác định địa bàn này là trọng điểm trong chiến lược phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững giai đoạn 2026-2036, với định hướng 13 dự án, tổng vốn khoảng 18.300 tỷ đồng.
Theo ông Hùng, mục tiêu không chỉ nằm ở quy mô đầu tư mà hướng đến hình thành hệ sinh thái nông nghiệp công nghệ cao, trong đó con giống, thức ăn, trang trại, chế biến, logistics và thị trường được kết nối bằng công nghệ, dữ liệu và tiêu chuẩn.
Tổ chức lại sản xuất, mở rộng đường vào thị trường
Không chỉ trong chăn nuôi, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật còn được thể hiện qua cách các hợp tác xã tổ chức lại vùng sản xuất và liên kết đầu ra.

Ông Nguyễn Văn Tuấn, đại diện HTX Dịch vụ thương mại nông nghiệp Cây Trôm, cho biết HTX thành lập năm 2017 với 29 thành viên, vốn điều lệ 1,5 tỷ đồng. Đến nay, HTX có 103 thành viên, vốn điều lệ 4,5 tỷ đồng.
Trong sản xuất lúa, HTX xác định muốn nâng giá trị phải tổ chức lại sản xuất và tạo lợi ích rõ hơn cho thành viên. Với phương châm “Thành viên tham gia sản xuất chỉ cần nhận lợi nhuận cuối vụ, mọi việc để HTX lo”, HTX xây dựng kế hoạch phát triển 5 năm và cụ thể hóa theo từng năm.
Những năm đầu, thủy lợi và giao thông nội đồng chưa hoàn thiện, máy móc khó tiếp cận ruộng, trong khi các thành viên vẫn sản xuất riêng lẻ. Sản phẩm chủ yếu tự tiêu thụ và chưa đáp ứng yêu cầu đồng nhất của doanh nghiệp.
Từ thực tế đó, HTX tập trung hoàn thiện hạ tầng và tổ chức sản xuất trước khi triển khai mô hình “mua chung, bán chung”. Đến năm 2020, thủy lợi, giao thông nội đồng, nhà kho từng bước được hoàn thiện; sản xuất được tổ chức theo một quy trình thống nhất.
Các thành viên được tập huấn, tham quan mô hình và thực hiện quy trình từ đầu vào đến tiêu thụ. Theo HTX, cách tổ chức này giúp giảm khoảng 17% chi phí sản xuất và tăng 22% lợi nhuận. Lúa tươi đáp ứng yêu cầu của đối tác được thu mua cao hơn 200-300 đồng/kg.
Hiện, HTX duy trì vùng nguyên liệu khoảng 800ha và liên kết với 4 tổ sản xuất khoảng 700ha mỗi năm. Sự tham gia của chính quyền, cơ quan khuyến nông và các doanh nghiệp như CCV, An Nông, Olam, Lotus, Cairo góp phần tạo đầu ra ổn định, giúp thành viên yên tâm sản xuất theo quy trình.
Trên nền tảng này, HTX dự kiến xây dựng sản phẩm gạo mang thương hiệu riêng, mở rộng thị trường nội địa và tăng cường liên kết, góp vốn với đối tác trong tiêu thụ gạo nguyên liệu.
Cùng với tổ chức lại sản xuất, thương mại điện tử đang mở thêm kênh tiếp cận thị trường cho nông sản Tây Ninh. Mô hình “Xã, phường thương mại điện tử” được triển khai theo hướng hỗ trợ hộ sản xuất, hợp tác xã và các chủ thể nông sản từng bước tham gia kinh doanh số.
Điểm đáng chú ý là chuyển đổi số không chỉ dừng ở việc đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử. Các khâu khảo sát nhu cầu, đào tạo kỹ năng bán hàng trực tuyến, chuẩn hóa bao bì và thông tin sản phẩm, kết nối giao thương, logistics và tiêu thụ cũng được đặt trong quá trình này.
Khi dữ liệu thị trường được kết nối trở lại vùng sản xuất, nông dân và hợp tác xã có thêm cơ sở để điều chỉnh sản lượng, chất lượng và phương thức sản xuất theo nhu cầu thực tế.
Bà Đinh Thị Phương Khanh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tây Ninh, cho rằng nông nghiệp hiện nay không chỉ đặt ra câu hỏi sản xuất được bao nhiêu mà quan trọng hơn là sản xuất sản phẩm gì, chất lượng ra sao, thị trường ở đâu và giá trị được phân bổ như thế nào cho người sản xuất.

Theo bà Khanh, khoa học và công nghệ cần xuất phát từ những vấn đề cụ thể của sản xuất, qua đó góp phần giảm chi phí, tăng năng suất, tiết kiệm nước và vật tư, giảm phát thải, nâng chất lượng, kéo dài thời gian bảo quản và tăng khả năng truy xuất nguồn gốc.
“Chuyển đổi số chỉ thực sự có ý nghĩa khi người sản xuất biết thị trường cần gì, khách hàng ở đâu và sản phẩm của mình đang được tiêu thụ như thế nào”, bà Khanh nhấn mạnh.
Với lợi thế về vùng sản xuất tập trung, sản phẩm nông nghiệp đặc trưng cùng hệ thống doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở sản xuất ngày càng phát triển, Tây Ninh có nền tảng để nâng cao giá trị nông sản. Tuy nhiên, để lợi thế này chuyển hóa thành giá trị bền vững, bài toán đặt ra không chỉ là mở rộng sản xuất mà còn phải hoàn thiện chuỗi liên kết từ vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn, dữ liệu, truy xuất nguồn gốc đến thương hiệu và thị trường.