Không còn là câu chuyện “nuôi được bao nhiêu con”
Với người chăn nuôi, một đàn gà khỏe mạnh, lớn nhanh và bán được giá vốn đã là mục tiêu quan trọng. Nhưng khi yêu cầu về an toàn thực phẩm, kiểm soát dịch bệnh, môi trường và chất lượng sản phẩm ngày càng cao, câu chuyện không còn dừng ở việc nuôi được bao nhiêu con hay xuất chuồng với trọng lượng bao nhiêu.

Theo báo cáo của Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh, tổng đàn gia cầm của tỉnh ước khoảng 26,3 triệu con, trong đó đàn gà khoảng 23 triệu con. Với quy mô chăn nuôi lớn như vậy, việc hình thành những mô hình có quy trình kỹ thuật, có kiểm soát và tiến tới chứng nhận VietGAHP được xem là một trong những cách để từng bước thay đổi tập quán sản xuất.
Từ yêu cầu đó, Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh triển khai mô hình “Chăn nuôi gà Ri lai thương phẩm đạt chứng nhận VietGAHP năm 2026” tại phường Hiệp Hòa và xã Yên Thế. Ba hộ được lựa chọn tham gia gồm hộ ông Lê Văn Hưng với quy mô 6.000 con; hộ ông Phạm Xuân Tùng và bà Đoàn Thị Thảo, mỗi hộ 2.000 con.
Để tham gia mô hình, các hộ phải đáp ứng những yêu cầu về chuồng nuôi, hệ thống cho ăn, uống, xử lý chất thải, vốn đối ứng và cam kết tuân thủ quy trình kỹ thuật. Đáng chú ý, quy trình không bắt đầu từ thời điểm gà giống được đưa vào chuồng mà bắt đầu từ khâu chuẩn bị.
Trước khi nhập giống, cán bộ kỹ thuật kiểm tra điều kiện vệ sinh thú y, nhiệt độ, độ ẩm, cơ sở vật chất, hệ thống cho ăn, uống. Chuồng nuôi được vệ sinh và phun thuốc sát trùng. Cách làm này cho thấy tư duy phòng bệnh được đặt lên trước, thay vì chờ đến khi đàn gà xuất hiện vấn đề mới xử lý.
Từng khâu trong chuồng nuôi đều có yêu cầu riêng
Tổng cộng 10.000 con gà Ri lai TRT123 được đưa vào mô hình. Các hộ chăn nuôi đối ứng 50% chi phí giống, phần còn lại được Nhà nước hỗ trợ. Giống được mua từ Trung tâm Nghiên cứu gia cầm Thụy Phương, với mật độ nuôi được xác định từ 6-8 con/m². Hộ ông Lê Văn Hưng nhập giống ngày 8/6/2026; hai hộ ông Phạm Xuân Tùng và bà Đoàn Thị Thảo nhập giống ngày 15/6/2026.

Từ đây, đàn gà được chăm sóc theo một quy trình tương đối chặt chẽ. Thức ăn được điều chỉnh theo từng giai đoạn sinh trưởng. Trong 21 ngày đầu, gà sử dụng thức ăn có hàm lượng protein thô 20%; từ ngày thứ 22 đến khi xuất chuồng, mức protein được điều chỉnh xuống 18%. Gà được cho ăn hai lần mỗi ngày và định kỳ kiểm tra khối lượng để điều chỉnh khẩu phần, hạn chế tình trạng thiếu hoặc thừa thức ăn.
Trong khu vực chăn nuôi, việc hạn chế người lạ ra vào được thực hiện nhằm giảm nguy cơ đưa mầm bệnh vào đàn. Mô hình sử dụng đệm lót sinh học, vừa góp phần hạn chế dịch bệnh và mùi hôi, vừa giảm lượng nước cũng như nhân công dành cho việc vệ sinh chất thải hằng ngày. Cùng với đó là quy trình vệ sinh, khử trùng được thực hiện định kỳ.
Phòng bệnh cũng được đặt ở vị trí trọng tâm. Đàn gà được tiêm các loại vaccine phòng Newcastle, Gumboro, Marek, viêm phế quản truyền nhiễm, đậu gà và cúm gia cầm phù hợp với đặc điểm dịch tễ tại trại. Quan điểm xuyên suốt của mô hình là tạo môi trường sống tốt cho đàn gà, bảo đảm thức ăn và dinh dưỡng, chủ động phòng bệnh; khi xuất hiện bất thường thì kiểm tra, lấy mẫu, phân tích để có phương án xử lý phù hợp.
Đây cũng là điểm khác biệt căn bản của cách nuôi theo VietGAHP. Hiệu quả không chỉ được nhìn ở trọng lượng đàn gà khi xuất bán mà nằm trong khả năng kiểm soát toàn bộ quá trình tạo ra sản phẩm.
Nói cách khác, thay vì chỉ quan tâm đến kết quả cuối cùng, người nuôi phải kiểm soát cả những yếu tố phía sau kết quả đó: giống từ đâu, thức ăn như thế nào, chuồng trại có bảo đảm hay không, dịch bệnh được phòng ngừa ra sao và chất thải được xử lý thế nào.
98% gà nuôi sống, chênh lệch thu - chi hơn 341 triệu đồng
Sau gần 4 tháng, mô hình đạt quy mô 10.000 con, tỷ lệ nuôi sống 98%, trọng lượng bình quân 2,5 kg/con và tiêu tốn thức ăn ở mức 2,3 kg thức ăn/kg tăng trọng. Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh đang tiếp tục hoàn thiện các thủ tục để cấp chứng nhận VietGAHP cho mô hình.
Những con số này cũng được phản ánh khá rõ khi tính hiệu quả kinh tế và đặt cạnh phương thức nuôi ngoài mô hình. Tổng chi phí trong mô hình được tính ở mức 1,251 tỷ đồng, cao hơn mức 1,134 tỷ đồng ngoài mô hình. Tuy nhiên, nhờ tỷ lệ sống cao hơn, trọng lượng bình quân lớn hơn và giá bán giả định cao hơn, tổng thu của mô hình đạt khoảng 1,593 tỷ đồng, trong khi ngoài mô hình là 1,340 tỷ đồng.
Sau khi trừ chi phí, chênh lệch thu - chi của mô hình đạt 341,24 triệu đồng, so với 205,83 triệu đồng ngoài mô hình. Theo báo cáo, hiệu quả kinh tế của mô hình cao hơn 65,78% so với ngoài mô hình. Với giá bán 65.000 đồng/kg, đàn gà sau gần 4 tháng đạt trọng lượng bình quân 2,5 kg/con và dự kiến mang lại khoản chênh lệch thu - chi 341,24 triệu đồng ở quy mô 10.000 con.
Điều đáng chú ý ở đây không đơn thuần là khoản chênh lệch giữa hai phương thức chăn nuôi. Chi phí tăng thêm cho thức ăn, quy trình kỹ thuật và các yêu cầu để hướng tới chứng nhận không chỉ làm tăng đầu vào, mà theo tính toán của mô hình, còn tạo ra giá trị thông qua tỷ lệ sống, trọng lượng đàn gà và giá bán sản phẩm.
Đó là bài toán mà chăn nuôi hiện đại phải đối mặt: chi phí sản xuất không nhất thiết phải được nhìn như một khoản phải cắt giảm bằng mọi giá. Quan trọng hơn là khoản chi đó có giúp kiểm soát rủi ro, nâng chất lượng và tạo thêm giá trị cho sản phẩm hay không.
Từ mô hình trình diễn đến thay đổi cách làm
Nếu chỉ nhìn vào một lứa gà, giá trị của mô hình có thể được đo bằng tỷ lệ sống, trọng lượng và hiệu quả kinh tế. Nhưng mục tiêu mà Trung tâm Khuyến nông Bắc Ninh hướng tới rộng hơn: tạo ra một mô hình đủ cụ thể để người chăn nuôi có thể nhìn thấy, học hỏi và áp dụng vào điều kiện sản xuất của gia đình mình.

Theo đánh giá trong báo cáo, việc áp dụng quy trình VietGAHP giúp đàn gà được kiểm soát tốt hơn về dịch bệnh, vệ sinh chuồng trại, sinh trưởng và phát triển. Mô hình cũng tạo điều kiện để các hộ chăn nuôi khác tham quan, học tập, từng bước chuyển từ sản xuất tự phát sang chăn nuôi có định hướng và có chứng nhận.
Ở góc độ sản xuất, quy trình kỹ thuật giúp tăng khả năng kiểm soát an toàn dịch bệnh, rút ngắn thời gian nuôi và khai thác hiệu quả hơn diện tích chuồng trại. Ở góc độ kinh tế, sản phẩm có chất lượng và giá trị cao hơn có thể góp phần tăng thu nhập trên cùng đơn vị diện tích. Còn ở góc độ xã hội, mô hình đưa người dân tiếp cận trực tiếp với kỹ thuật chăn nuôi, từng bước hình thành tư duy sản xuất gắn với vùng nuôi, kết nối tiêu thụ và nâng cao giá trị gia tăng.
Một yếu tố khác không thể bỏ qua là môi trường. Chất thải được xử lý, chuồng nuôi được bố trí và vệ sinh theo quy trình, thức ăn được sử dụng có kiểm soát nhằm hạn chế lãng phí. Những việc tưởng như rất nhỏ trong từng trang trại lại có ý nghĩa lớn khi quy mô chăn nuôi ngày càng tăng và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng rõ hơn.
Tuy nhiên, để những mô hình như vậy thực sự tạo ra chuyển biến rộng hơn, vẫn còn không ít vấn đề phải giải quyết. Đất đai dành cho chăn nuôi tập trung chưa dễ bố trí, sản xuất nhỏ lẻ còn phổ biến, thị trường tiêu thụ chưa ổn định, giá sản phẩm bấp bênh, trong khi mối liên kết giữa chăn nuôi với giết mổ, chế biến và tiêu thụ còn hạn chế. Giá con giống và thức ăn tăng cũng tiếp tục tạo áp lực cho người nuôi.
Bởi vậy, một mô hình VietGAHP sẽ khó tạo ra thay đổi nếu chỉ dừng lại ở vài hộ tham gia. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng nhân rộng. Khi người dân được trực tiếp tiếp cận tiến bộ kỹ thuật, nhìn thấy hiệu quả trong thực tế và có điều kiện vận dụng tại gia đình, mô hình mới có cơ hội tạo thành một phương thức sản xuất rộng hơn.
Từ một đàn gà 10.000 con, điều đáng chú ý vì thế không chỉ nằm ở con số 98% nuôi sống hay khoản chênh lệch thu - chi hơn 341 triệu đồng. Phía sau những con số ấy là một cách tổ chức lại quá trình sản xuất, trong đó giống, thức ăn, vệ sinh, dịch bệnh, môi trường và quy trình chăn nuôi được đặt trong cùng một hệ thống kiểm soát.
Khi đó, người nuôi không chỉ bán một sản phẩm thịt gà mà từng bước tạo ra sản phẩm có quy trình và tiêu chuẩn rõ ràng. Đây có thể xem là bước chuyển từ tư duy “nuôi gà để bán” sang “tổ chức sản xuất để tạo ra sản phẩm có chất lượng, kiểm soát được và có giá trị cao hơn” – nền tảng quan trọng để những mô hình chăn nuôi riêng lẻ tiến tới phương thức sản xuất ổn định và bền vững hơn.