“Thuốc thử” đối với môi trường
Trong câu chuyện với phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Kinh tế xanh, anh Đoàn Minh Sơn, ở xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Bảo (cũ), nay là xã Nguyễn Bỉnh Khiêm, TP Hải Phòng, thông tin, Vĩnh Bảo quê anh có rất nhiều vùng rươi rộng lớn lên tới hàng trăm ha tại các xã: Thắng Thủy (nay là xã Vĩnh Thịnh), Tam Cường (nay là xã Vĩnh Am), Tân Liên, Giang Biên (nay là xã Vĩnh Thuận), Tiền Phong, Vĩnh Phong (nay là xã Vĩnh Hải)…
Trước đây, khi rươi chưa có giá bán cao như hiện nay, đến mùa bắt đầu từ “Tháng chín đôi mươi, tháng mười mồng năm”, người dân Vĩnh Bảo vớt rươi nổi chế biến món ăn trong gia đình. Ngày lạnh, bữa cơm có thêm món rươi kho, đốt trấu hay rán, nấu canh rau cải. Những khi vớt được nhiều, người dân nơi đây còn làm mắm rươi hay đổi gạo. Từ khi rươi có giá, người dân Vĩnh Bảo quây bờ đầm, ao hay ruộng sâu trũng rồi cải tạo cho tơi xốp để rươi dễ “đậu” và sinh trưởng, phát triển tốt.

“Những người có kinh nghiệm, nhìn bọt nước biết có trứng rươi hay không để lấy nước vào ruộng rươi. Họ còn tháo cạn ruộng rươi rồi lựa thời rươi được giá để tháo nước vào để rươi nổi. Có năm, giá rươi lên tới 350.000 - 400.000 đồng/kg, mỗi sào ruộng thu về hàng chục triệu đồng, cao gấp nhiều lần so với cấy lúa, trồng rau màu”, anh Sơn chia sẻ.
Theo anh Sơn, vì chỉ sinh trưởng và phát triển tốt trong môi trường sạch (không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học…), nên rươi được coi là “thuốc thử” cho môi trường. Cùng với rươi, người làm nghề còn thu thêm nhiều loại nông sản có giá trị cao như cá lác, cà ra, cáy… trong ruộng.
Mặc dù rươi được coi là “lộc giời”, nhưng nếu không biết cách chăm sóc, giữ gìn (để nguồn nước ô nhiễm, sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật…), thì đến mùa tất phải chứng kiến cảnh rươi như “bóng chim, tăm cá”. Vì thế, cải tạo ruộng để đón rươi về khó một, giữ được chúng cho “lộc” hằng năm khó mười.
Kỳ công “đỡ đẻ” cho rươi
Ở xã Nguyễn Bỉnh Khiêm, TP Hải Phòng, có 2 người tên Giang nổi tiếng gắn bó với đồng đất quê hương có biệt danh là “Giang hành tỏi”, người còn lại là “Giang rươi”. “Giang rươi” tên đầy đủ là Hoàng Xuân Giang. Vợ chồng anh là chủ nhân của đầm rươi rộng lớn với diện tích gần 10 ha, đến vụ thường xuyên “rươi nổi như rắc trấu”.
Trò chuyện với phóng viên Tạp chí Doanh nghiệp và Kinh tế xanh, anh Giang chia sẻ, từ năm 2010, gia đình anh thầu khoán hơn 9 ha ruộng rươi. Ban đầu cứ tưởng “hái ra tiền”, thế nhưng, vụ này qua vụ khác rươi vẫn “bóng chim, tăm cá”.
Sau khi tìm hiểu từ những người nuôi rươi lâu năm có kinh nghiệm cũng như đọc các tài liệu, anh Giang mới nắm được nguyên nhân. Đó là nguồn rươi giống trong tự nhiên ngày càng suy giảm.
Xưa, đầm bãi không có bờ bao, khi rươi nổi chỉ vớt được phần nhỏ, phần lớn rươi theo dòng nước ra vùng cửa biển. Sau đó, rươi đẻ trứng. Trứng rươi bám vào bọt nước rồi trôi vào đầm bãi nở ra ấu trùng rươi để bắt đầu chu kỳ sinh trưởng mới.

Nay, đầm bãi rươi được quây kín, người nuôi rươi quây bắt bằng đọn, nên chỉ có lượng rươi rất nhỏ lọt lưới. Bên cạnh đó, nguồn nước sông ngày càng bị ô nhiễm, nên những con rươi ít ỏi lọt lưới ấy cũng khó sống sót.
Theo quan niệm dân gian, rươi là thứ “lộc trời”, rươi tự đến, tự đi do may mắn của người nuôi. Vì thế, bao năm nay, không chỉ vùng rươi của huyện Vĩnh Bảo (cũ), mà còn nhiều nơi khắp cả nước, ít người nghĩ đến chuyện nuôi rươi sinh sản hay thả rươi giống vào đầm.
Với suy nghĩ, mọi động vật đều có quá trình sinh sản, kể cả những loài được mệnh danh là “quái sản” nước lợ như tôm rảo, rươi. Sau khi học hỏi kiến thức qua sách, báo, trên các mạng xã hội, kinh nghiệm của những bậc cao niên trong vùng, anh Giang có quyết định táo bạo xưa nay chưa hộ nuôi rươi trong huyện Vĩnh Bảo dám nghĩ tới: Nuôi rươi sinh sản và ương rươi giống.
Bỏ ngoài tai những lời dèm pha, sự nghi ngờ kể cả của bạn bè, người thân, vụ rươi năm 2013, anh Giang xây bể, dựng trại ương rươi giống. Tháng 10 năm đó, khi rươi ngoài ruộng nổi, anh thuê người vớt đưa vào bể nuôi sinh sản, áp dụng quy trình từ nuôi đẻ, ấp trứng đến ương rươi giống theo sách báo và các nghiên cứu khoa học.
Tuy nhiên, thành công đến không hề dễ dàng. Liên tiếp các vụ rươi từ năm 2013 đến năm 2016, mặc dù rươi đẻ rất nhiều trứng, nhưng tỷ lệ trứng nở thành rươi giống rất thấp, chưa đến 1%.

“Nói thật, nhiều lúc tôi nghĩ đến việc dẹp xưởng, trả đầm rươi chuyển sang làm nghề khác. Tuy nhiên, sự tự ái cùng mong muốn bà con nuôi rươi ở quê hương thoát nghèo vươn lên làm giàu chính đáng trên đồng đất quê hương đã tiếp thêm nghị lực giúp tôi bỏ ngoài tai những lời xì xào, dèm pha để tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi”, anh Giang tâm sự.
Qua nhiều vụ rươi thất bại, anh Giang nắm vững quy trình khép kín từ đưa rươi bố mẹ vào bể cho sinh sản, đưa trứng sang bể ấp nở và nuôi dưỡng ấu trùng rươi thành rươi giống có kích thước 0,2-0,3 mm. Tỉ lệ trứng rươi nở thành rươi giống lên tới hơn 80%.
Đầu năm 2017, anh Giang thuê người khoanh vùng ruộng rươi của gia đình với diện tích 1,5 ha để thử nghiệm. Đến tháng 3, anh đưa rươi giống xuống ruộng để sinh trưởng, phát triển. Vụ rươi năm ấy, ruộng rươi thử nghiệm của gia đình anh Giang cho thu hoạch trung bình cao gấp 3 lần so với diện tích còn lại (45 kg/sào/vụ so với 15 kg/sào/vụ).

Từ vụ rươi năm 2018 đến nay, mỗi vụ anh Giang đưa hàng tỷ con rươi giống ra thị trường khu vực Vĩnh Bảo và các địa phương lân cận tiêu thụ. Căn cứ vào tình hình ruộng rươi, anh Giang tư vấn cho chủ ruộng mật độ thả khác nhau, từ ruộng mới lập chưa có rươi đến ruộng lập lâu năm cho thu rươi ổn định.
Để lấy niềm tin của những người nuôi rươi, anh Giang cam kết, nếu vụ thu hoạch lượng rươi trung bình cao hơn so với chưa thả giống, anh mới lấy tiền, còn bằng hoặc thấp hơn, anh không lấy tiền giống.
“Đến nay, rất ít chủ ruộng tôi phải “biếu không” tiền rươi giống, hầu hết diện tích thả rươi giống thu hoạch tăng 50-100%, nhiều ruộng tăng gấp 2-3 lần. Năm 2020, cơ sở sản xuất giống rươi của tôi được Chi cục Thủy sản trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP Hải Phòng (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố) cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản (giống rươi)”, anh Giang thông tin với phóng viên./.