Gạo Việt nhập “làn đua xanh”
Năm 2025, ngành hàng lúa gạo Việt Nam đánh dấu mốc quan trọng khi có 70.000 tấn gạo được cấp nhãn hiệu "Gạo Việt xanh phát thải thấp" và lô hàng gạo đầu tiên có gắn nhãn hiệu này được xuất khẩu sang Nhật Bản.
Theo Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam, sau nhiều hội thảo và tham vấn các chuyên gia, ngày 16/4/2025, Hiệp hội đã ban hành Quy chế tạm thời sử dụng nhãn hiệu "Gạo Việt xanh phát thải thấp" nhằm góp phần tăng thêm giá trị của lúa gạo, khuyến khích phát triển nhãn hiệu và thương hiệu gạo Việt Nam phát thải thấp và tạo dựng hình ảnh xanh của gạo Việt trên thị trường trong nước và quốc tế.
Tiêu chuẩn của nhãn hiệu là nguồn gốc xuất xứ sản phẩm được xác định từ vùng sản xuất lúa theo Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp, quy mô vùng là hợp tác xã hoặc liên hợp tác xã kề nhau trong một xã. Quy trình kỹ thuật được thực hiện theo Quy trình kỹ thuật sản xuất lúa chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đảm bảo điều kiện lúa được thu gom, tồn trữ và chế biến riêng biệt để không lẫn lộn với lúa, gạo từ nguồn gốc khác.
Cũng ngay trong tháng 4/2025, Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam đã cấp nhãn hiệu "Gạo Việt xanh phát thải thấp" cho 7 doanh nghiệp đầu tiên.
“Ngay sau đó, chúng ta có lô gạo 500 tấn gắn nhãn "Gạo Việt xanh phát thải thấp" đầu tiên xuất sang thị trường Nhật Bản và đã gây được tiếng vang. Điều này chứng minh được hiệu quả, kết quả của việc tham gia và thực hiện Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp và đánh dấu bước đi mang tính biểu tượng cho hành trình đưa gạo carbon thấp Việt Nam vươn ra thị trường khó tính” - ông Lê Thanh Tùng, Tổng Thư ký Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA) nói đồng thời nhận định, tốc độ phát triển của nhãn hiệu "Gạo Việt xanh phát thải thấp" nhanh như vũ bão khi mà tính đến tháng 11/2025, khoảng 70.000 tấn gạo Việt được dán nhãn "Gạo Việt xanh, phát thải thấp". Kết qủa này cho thấy niềm tin vào con đường phát triển gạo phát thải thấp là con đường đúng đắn và không có quá nhiều trở ngại.

“Con số 70.000 tấn còn quá nhỏ bé so với hàng triệu tấn gạo xuất khẩu mỗi năm nhưng tôi cho rằng, đó là một sự khởi đầu rất đáng kỳ vọng, khích lệ người nông dân, doanh nghiệp tham gia vào Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp chủ động hơn. Thực tế, Việt Nam là quốc gia đầu tiên thực hiện dự án sản xuất lúa phát thải thấp nên được quốc tế rất quan tâm” - ông Tùng nhấn mạnh.
Trụ cột chiến lược
Bước sang năm 2026, xuất khẩu gạo Việt Nam khởi đầu với tín hiệu tích cực khi tháng 1 đạt khoảng 600.000 tấn (tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước); kim ngạch đạt 370 triệu USD (tăng 16,9% so với cùng kỳ năm trước). Giá xuất khẩu bình quân đạt hơn 616 USD/tấn, phản ánh sự cải thiện về chất lượng và giá trị. Tuy nhiên, đằng sau những con số tích cực là nhiều thách thức lớn. Giá gạo thế giới đang có xu hướng hạ nhiệt do nguồn cung tăng trở lại, tồn kho toàn cầu cao, khiến các nước nhập khẩu không vội ký hợp đồng lớn. Điều này tạo áp lực cạnh tranh lớn đối với các quốc gia xuất khẩu, trong đó có Việt Nam.
Theo Chủ tịch Tập đoàn Lộc Trời Huỳnh Văn Thòn, thách thức lớn nhất hiện nay không phải là thị trường, mà là sự ổn định của vùng nguyên liệu và chuỗi liên kết. Nếu không có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, nguồn cung sẽ thiếu ổn định, ảnh hưởng đến chất lượng và uy tín thương hiệu gạo Việt.
Ngoài ra, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chi phí chuyển đổi cao và thiếu hệ thống chứng nhận phát thải đáng tin cậy cũng là những rào cản lớn đối với quá trình chuyển đổi sang sản xuất gạo chất lượng cao.
Còn theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hùng, để nhân rộng mô hình này cần sự tham gia đồng bộ của toàn bộ chuỗi giá trị, từ nhà khoa học, hợp tác xã, doanh nghiệp đến cơ quan quản lý. Khi nông dân được hỗ trợ kỹ thuật, có đầu ra ổn định và thấy rõ lợi ích kinh tế, quá trình chuyển đổi sẽ diễn ra nhanh chóng.
Đặc biệt, Đề án phát triển bền vững 1 triệu héc ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long được kỳ vọng tạo bước đột phá lớn. Đây không chỉ là giải pháp nâng cao giá trị xuất khẩu, mà còn là nền tảng để xây dựng thương hiệu gạo quốc gia gắn với phát triển xanh.
Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ số, cơ giới hóa, truy xuất nguồn gốc và xây dựng hệ sinh thái liên kết bền vững đóng vai trò quan trọng. Khi chuỗi sản xuất được quản lý minh bạch và đồng bộ, gạo Việt không chỉ đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, mà còn nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh.
Các chuyên gia nhận định, trong bối cảnh thị trường toàn cầu ngày càng khắt khe, lợi thế cạnh tranh không còn nằm ở sản lượng mà ở chất lượng, tính bền vững và giá trị thương hiệu. Gạo phát thải thấp, gạo chất lượng cao không chỉ là sản phẩm nông nghiệp, mà còn là “câu chuyện thương hiệu quốc gia”, giúp Việt Nam khẳng định vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.