“Bệ đỡ” cho vùng khó vươn lên
Những năm gần đây, diện mạo nhiều bản làng miền Tây Nghệ An đang dần thay đổi. Những tuyến đường bê. tông nối dài vào tận bản, trường học và trạm y tế khang trang hơn, điện lưới, nước sinh hoạt từng bước được. phủ kín. Quan trọng hơn, đời sống người dân vùng cao đã có nhiều chuyển biến khi ngày càng xuất hiện nhiều. mô hình kinh tế mang lại thu nhập ổn định.
Đằng sau sự đổi thay ấy là hiệu quả từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và Chương trình. mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021–2025. được triển khai đồng bộ, hiệu quả trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Là tỉnh có diện tích miền núi rộng, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thường xuyên chịu tác động của thiên tai, Nghệ An từng đối mặt với nhiều khó khăn trong công tác giảm nghèo. Nhiều địa phương vùng sâu, vùng xa có. tỷ lệ hộ nghèo cao, sinh kế người dân phụ thuộc chủ yếu vào sản xuất nhỏ lẻ, thiếu ổn định.
Trước thực tế đó, tỉnh đã chuyển mạnh từ hỗ trợ ngắn hạn sang hỗ trợ sinh kế bền vững, lấy người dân làm. trung tâm. Các chương trình giảm nghèo không chỉ hỗ trợ vốn mà còn tập trung đào tạo nghề, chuyển giao khoa. học kỹ thuật, xây dựng mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện từng vùng.
Trong giai đoạn 2021–2025, Nghệ An triển khai 7 dự án và 11 tiểu dự án thành phần thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Nguồn lực được ưu tiên cho phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế, đầu tư hạ. tầng thiết yếu và tạo việc làm cho người dân vùng khó khăn.
Kết quả bước đầu cho thấy nhiều chỉ tiêu giảm nghèo đạt và vượt kế hoạch đề ra. Giai đoạn 2021–2024, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm từ 7,8% xuống còn 4,16%, bình quân giảm 1,21% mỗi năm. Đặc biệt, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm từ 38,58% xuống còn 24,92%, bình quân giảm 4,55% mỗi năm.
Đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn khoảng 3,13%; khu vực miền núi còn 8,66%. Với đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ hộ nghèo ước còn 23,01%, tiếp tục đáp ứng mục tiêu đề ra, tạo nền tảng quan trọng để Nghệ An tiến tới giảm nghèo bền vững. Kết quả này cho thấy các chính sách giảm nghèo, nhất là các giải pháp hỗ trợ sinh kế, phát triển sản xuất ở vùng khó khăn, đã bám sát nhu cầu thực tế và phát huy hiệu quả rõ nét.

Song song với giảm nghèo về thu nhập, điều kiện sống của người dân cũng từng bước được cải thiện. Hàng trăm công trình giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, công trình nước sinh hoạt được đầu tư xây dựng đã giúp người dân thuận lợi hơn trong đi lại, sản xuất và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Theo thống kê, đến cuối năm 2025, toàn tỉnh đã hoàn thành 149 công trình giao thông, 65 trường học, 19 trạm y tế, 24 công trình thủy lợi, 21 công trình nước sinh hoạt tập trung cùng nhiều thiết chế văn hóa, chợ nông thôn.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Phùng Thành Vinh nhấn mạnh: “Giảm nghèo bền vững không chỉ là nâng cao thu nhập mà còn tạo điều kiện để người dân tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản, thay đổi tư duy sản xuất và chủ động vươn lên thoát nghèo”.
Thoát nghèo và mơ ước làm giàu để xây dựng quê hương
Về xã Yên Na hôm nay, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra những sự đổi khác, từ bộ mặt các thôn bản cho đến những ngôi nhà kiên cố, những mái trường vững vàng trước mưa bão. Đặc biệt, cuộc sống người dân đã được nâng cao rõ rệt. Với nguồn lực từ chương trình MTQG, địa phương đã xây dựng nhiều mô hình kinh tế xanh hiệu quả để vừa đảm bảo thu nhập gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững. Trong đó, nghề đan bèo tây xuất khẩu đang trở thành mô hình sinh kế tiêu biểu gắn với kinh tế xanh.
Trước đây, người dân nơi đây chủ yếu sống dựa vào nương rẫy và nghề đan tre nứa truyền thống. Tuy nhiên, khi nhu cầu thị trường thay đổi, nghề cũ dần mai một, thu nhập bấp bênh. Để tạo việc làm tại chỗ, chính quyền xã đã kết nối với doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ đưa nghề đan bèo tây về tận các bản làng.
Chỉ trong thời gian ngắn, nhiều lớp học nghề được mở tại 5 bản, thu hút đông đảo người dân tham gia, trong đó có nhiều người lớn tuổi. Riêng bản Văng Cuộm có gần 15 người trên 60 tuổi đăng ký học nghề.
Ông Nguyễn Văn Hoè, Phó Chủ tịch UBND xã Yên Na cho biết: “Hiện nay, mỗi bản có hơn 10 người được truyền nghề rồi, những người biết nghề thì sau đó lại dạy cho người khác. Cái nghề này thì cũng rất đơn giản đối với bà con và phù hợp với mọi lứa tuổi. Mục tiêu của chúng tôi là mang cái nghề này đến truyền dạy ở toàn bộ 16 bản trên địa bàn xã, để giúp bà con có thêm thu nhập, ổn định cuộc sống và vươn lên thoát nghèo”.
Nhờ có sẵn kỹ năng thủ công truyền thống, bà con tiếp thu khá nhanh. Mô hình này mang lại thu nhập khoảng 150 nghìn đồng/ngày, tương đương 3–5 triệu đồng/tháng. Người dân có thể làm việc tại nhà vào thời gian nông nhàn, trong khi doanh nghiệp cung cấp nguyên liệu và bao tiêu toàn bộ sản phẩm nên không phải lo đầu ra.
Các sản phẩm từ bèo tây thân thiện với môi trường, phù hợp xu hướng tiêu dùng xanh. Từ hiệu quả bước đầu, địa phương đang hướng tới nhân rộng mô hình ra toàn bộ 16 bản trong xã.
Không chỉ ở Yên Na, nhiều địa phương miền núi khác cũng đang từng bước hình thành các mô hình kinh tế phù hợp với điều kiện sinh thái và tập quán sản xuất của đồng bào.
Tại xã Nhôn Mai, mô hình kinh tế tổng hợp của ông Xeo Văn Tình bản Na Lợt đang trở thành điển hình thoát nghèo nhờ phát triển kinh tế rừng.
Trước đây thuộc diện hộ nghèo, ông Tình được hỗ trợ vốn vay, cây giống, con giống từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững để phát triển mô hình sản xuất tổng hợp với lúa nước, keo lai, sắn, gừng, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc.
Đặc biệt, ông đã gây trồng thành công hơn 500 gốc chè hoa vàng – loại dược liệu quý có giá trị kinh tế cao, giá bán từ 500 nghìn đồng đến 2 triệu đồng/kg. Không chỉ phát triển kinh tế cho gia đình, ông còn chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ giống cây để nhiều hộ dân trong bản cùng làm theo.
“Cây chè hoa vàng không những giúp gia đình tôi và nhiều hộ dân khác tại bản Na Lợt vươn lên thoát nghèo mà còn tạo được sinh kế ổn định để chúng tôi tiếp tục thực hiện mơ ước làm giàu ngay trên chính mảnh đất quê hương” ông Tình tâm sự.
Từ hiệu quả mô hình này, địa phương đã thành lập Tổ hợp tác Chế biến và Kinh doanh chè hoa vàng Na Lợt nhằm liên kết sản xuất, nâng cao giá trị sản phẩm.
Cùng với phát triển cây dược liệu dưới tán rừng, nhiều địa phương cũng đẩy mạnh chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học, từng bước nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường.

Sau khi được cấp cây giống, con giống từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và được tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi, chị Kha Thị Kím ở bản Văng Lim xã Yên Hoà đã phát triển mô hình kinh tế tổng hợp với khoảng 10 con bò, 5 con lợn nái, gần 100 con gà thịt kết hợp trồng hơn 8 ha keo. Mỗi năm, gia đình chị thu lãi từ 100–120 triệu đồng, từng bước ổn định cuộc sống và vươn lên khá giả.
Thực tế cho thấy, đa số các mô hình giảm nghèo hiệu quả hiện nay đều tận dụng tiềm năng, lợi thế về điều kiện tự nhiên tại chính các địa phương để từ đó phát huy thế mạnh bản địa và tạo sinh kế tại chỗ cho người dân. Từ những mô hình được hỗ trợ bởi Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, nhiều hộ dân vùng cao Nghệ An đang từng bước thay đổi tư duy sản xuất, chủ động vươn lên thoát nghèo bằng chính nội lực của mình./.