
Báo cáo được đánh giá là công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao, cung cấp góc nhìn toàn diện về thực trạng kinh tế vùng, đồng thời đề xuất định hướng chiến lược cho quá trình tái cấu trúc mô hình tăng trưởng của ĐBSCL trong giai đoạn mới.
Phát biểu tại lễ công bố, Chủ tịch VCCI Hồ Sỹ Hùng cho rằng ĐBSCL đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải thay đổi tư duy phát triển. Theo ông, mô hình tăng trưởng dựa vào tài nguyên, sản lượng thô và lao động giản đơn đã chạm tới giới hạn, trong khi áp lực tăng trưởng mới ngày càng lớn. Đột phá của ĐBSCL đến năm 2030 sẽ không nằm ở việc sản xuất nhiều lúa hơn, nhiều cá hơn hay nhiều trái cây hơn mà ở khả năng hình thành một hệ sinh thái doanh nghiệp nông nghiệp - chế biến - logistics - tài chính - công nghệ đủ sức cạnh tranh trong thị trường xanh, số hóa và tiêu chuẩn cao.
Ông Hùng thông tin thêm, ĐBSCL vẫn giữ vai trò chiến lược trong nền kinh tế Việt Nam khi đóng góp hơn 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng thủy sản nuôi trồng, 70% trái cây và trên 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Giai đoạn 2015-2024, kim ngạch xuất khẩu của vùng tăng từ 8,5 tỷ USD lên 20,3 tỷ USD, trong khi thặng dư thương mại tăng từ 5,2 tỷ USD lên 11,8 tỷ USD. Năm 2025, GRDP toàn vùng tăng khoảng 7,24%, đóng góp 8,39% vào tăng trưởng chung của cả nước và chiếm 12,2% GDP quốc gia.
Báo cáo lần này chỉ ra nhiều nghịch lý và điểm nghẽn kéo dài của vùng. Sau khi Long An tách khỏi ĐBSCL, những hạn chế về công nghiệp, thu hút FDI, năng suất lao động và thiếu cực tăng trưởng càng bộc lộ rõ. ĐBSCL hiện là vùng có mật độ doanh nghiệp thấp nhất cả nước. Nếu năm 2000 khu vực này từng chiếm khoảng 22% tổng số doanh nghiệp cả nước thì đến năm 2024 chỉ còn khoảng 7%. Năng suất lao động của vùng hiện thuộc nhóm thấp nhất cả nước, chỉ khoảng 133 triệu đồng/lao động/năm, trong khi tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2024 chỉ đạt 16,3%, thấp hơn đáng kể so với Đông Nam Bộ. Chi phí logistics hiện chiếm tới 20-25% giá thành sản phẩm do phần lớn hàng hóa xuất khẩu vẫn phải trung chuyển qua TP.HCM và Đông Nam Bộ.
Bên cạnh đó, điểm nghẽn lớn nhất của ĐBSCL không phải thiếu tiềm năng mà là thiếu lực lượng doanh nghiệp đủ mạnh để dẫn dắt quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng và nâng cấp chuỗi giá trị. Một nghịch lý đáng chú ý là dù nông nghiệp đóng góp hơn 30% GRDP toàn vùng nhưng số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này chỉ chiếm chưa tới 5%. Trong khi đó, doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm tới 87,8% tổng số doanh nghiệp của vùng, còn doanh nghiệp lớn chưa tới 1%, cho thấy tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng tầng doanh nghiệp dẫn dắt.
Nhóm nghiên cứu nhận định doanh nghiệp tư nhân nội địa cần đóng vai trò trung tâm trong việc kết nối sản xuất, chế biến và thị trường. FDI cần chuyển từ mô hình thâm dụng lao động sang tạo liên kết công nghệ và lan tỏa giá trị cho doanh nghiệp địa phương. Đồng thời, doanh nghiệp nhà nước cần được tái định vị để đóng vai trò mở đường trong các lĩnh vực nền tảng như logistics lạnh, năng lượng, môi trường, dữ liệu và kiểm định chất lượng.
9 nút thắt lớn đang cản trở sự phát triển của doanh nghiệp vùng được chỉ rõ, gồm mô hình tăng trưởng dựa vào tài nguyên, logistics yếu, chi phí tuân thủ cao, thiếu lao động kỹ năng, tín dụng chưa đáp ứng nhu cầu chuyển đổi, FDI lan tỏa thấp và văn hóa liên kết còn hạn chế. Từ đó, nhóm nghiên cứu đề xuất khung hành động chính sách mới theo hướng chuyển từ “phát triển dựa vào đầu tư và sản lượng” sang “phát triển dựa trên doanh nghiệp và hệ sinh thái”.

Phát biểu tại sự kiện, Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ Trương Cảnh Tuyên cho rằng Báo cáo Kinh tế Thường niên ĐBSCL 2025 đã phản ánh toàn diện những cơ hội và thách thức mà vùng đang đối mặt trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Ông nhấn mạnh ĐBSCL cần thay đổi tư duy phát triển theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tăng cường liên kết vùng để nâng cao năng lực cạnh tranh. Theo ông Trương Cảnh Tuyên, Cần Thơ sẽ tiếp tục đầu tư hạ tầng logistics, hạ tầng số và cải thiện môi trường đầu tư nhằm hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp phát triển bền vững, đồng thời ưu tiên thu hút các dự án công nghệ cao, chế biến sâu nông sản và năng lượng tái tạo để tạo động lực tăng trưởng mới cho toàn vùng ĐBSCL.

Theo định hướng được nhóm nghiên cứu đề xuất, đến năm 2030, ĐBSCL cần chuyển từ vai trò vùng cung ứng nguyên liệu thô sang hệ sinh thái kinh tế nông nghiệp đổi mới sáng tạo, cạnh tranh bằng công nghệ, dữ liệu, thương hiệu và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Báo cáo nhận định sự thịnh vượng của ĐBSCL trong giai đoạn tới sẽ phụ thuộc vào năng lực của cộng đồng doanh nghiệp trong việc biến tài nguyên bản địa thành giá trị gia tăng, biến thách thức khí hậu thành lợi thế cạnh tranh và biến bản sắc vùng thành động lực phát triển bền vững.