
Tiếp tục chương trình kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 23/8, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Dầu khí (sửa đổi) năm 2026 với 473/475 đại biểu có mặt biểu quyết tán thành (tỷ lệ 94,6%).
Luật Dầu khí (sửa đổi) tập trung vào việc tăng phân cấp, phân quyền cho cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí và Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam); bổ sung chính sách ưu đãi đối với mỏ nhỏ, cận biên, nước sâu xa bờ và khai thác tận thu; đồng thời mở rộng hành lang pháp lý cho thu giữ, lưu trữ carbon (CCS), dịch vụ dầu khí công nghệ cao và năng lượng ngoài khơi.
Theo Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), Luật Dầu khí (sửa đổi) đã chính chính thức luật hóa việc phân cấp thẩm quyền phê duyệt hợp đồng, kế hoạch phát triển mỏ cho PVN - điều mà trước đó mới chỉ được thí điểm một phần qua Nghị quyết 66.6/2025/NQ-CP. Đồng thời lần đầu đưa hoạt động thu giữ và lưu trữ carbon và năng lượng ngoài khơi vào khung pháp lý cấp luật (Chương 8–9).
Điểm mới quan trọng nhất về tài chính của Luật Dầu khí (sửa đổi) được quy định tại Điều 60 và khoản 5 Điều 62 tạo cơ chế minh bạch để PVN quyết toán các khoản chi phí đã thực hiện thay Nhà nước, giải quyết một điểm nghẽn tài chính tồn đọng nhiều năm của tập đoàn này.
MBS đánh giá Luật Dầu khí (sửa đổi) tác động trực tiếp và rõ nét nhất đến nhóm thượng nguồn, do đây là nhóm gắn liền với chu kỳ đầu tư và tiến độ phê duyệt dự án - gần sát với những nội dung được sửa đổi lần này.

Công ty chứng khoán này nhận định PVS và PVD là hai doanh nghiệp niêm yết được hưởng lợi trực tiếp nhất nhờ việc đẩy nhanh các quyết định đầu tư, nhóm trung nguồn (GAS, PVT) hưởng lợi gián tiếp qua nhu cầu khai thác tăng, còn nhóm hạ nguồn (BSR, PLX, OIL) chủ yếu hưởng lợi từ nguồn cung ổn định hơn.
MBS cho rằng phần lớn tác động tích cực của Luật Dầu khí sửa đổi lên PVS và PVD đến từ việc rút ngắn chu kỳ phê duyệt dự án, qua đó đẩy nhanh thời điểm ghi nhận doanh thu/backlog, hơn là từ bản thân việc mở rộng thị trường.
Với PVS, backlog vào khoảng 7 tỷ USD cùng các dự án trọng điểm (Lô B – Ô Môn, Lạc Đà Vàng, điện gió ngoài khơi) là cơ sở tăng trưởng trong 5 năm tới, song biên lợi nhuận mảng xây lắp M&C hiện còn mỏng nên tốc độ chuyển hóa backlog thành lợi nhuận thực tế cần được theo dõi sát theo từng quý.
MBS dự phóng khối lượng backlog các dự án M&C của PVS sẽ bước vào pha cao điểm trong năm 2026 để kịp đáp ứng tiến độ đón các dòng dầu và khí trong tương lai gần (2027- 2030), dự kiến tổng backlog rơi vào khoảng hơn 1 tỷ USD trong năm nay.
Trong đó, các gói thầu EPCI cho Lô B – Ô Môn tiếp tục là trụ cột chính, ngoài ra hợp đồng EPCIC giàn xử lý trung tâm Lạc Đà Vàng và các dự án điện gió ngoài khơi cũng được dự báo sẽ có sự đóng góp tích cực. Giai đoạn 2026-2030, PVS đưa ra kế hoạch đẩy mạnh đầu tư, tuy sẽ gây ra đôi chút áp lực lên dòng tiền từ hoạt động đầu tư nhưng về dài hạn, việc này sẽ hỗ trợ tích cực cho kết quả kinh doanh của PVS khi có thể gia tăng công suất và tiếp nhận các hợp đồng lớn. Định giá của PVS ở giai đoạn hiện tại (P/E=9.x) tương đối hấp dẫn khi so với mức P/E trung bình 3 năm là 17.x và trung bình 5 năm là 18.x.
Với PVD, MBS nhận định động lực đến từ cả hai chiều: nhu cầu khoan trong nước tăng nhờ tiến độ dự án được đẩy nhanh, và chu kỳ giá thuê giàn khoan toàn cầu đang thuận lợi, nhưng đây cũng là hai biến số nằm ngoài tầm ảnh hưởng của khung pháp lý trong nước.
Theo MBS, nhu cầu giàn khoan tại khu vực Đông Nam Á dự kiến tiếp tục duy trì ở ngưỡng cao, phản ánh qua việc tỷ lệ sử dụng giàn thường xuyên vượt ngưỡng 95% trong thời gian qua. Với các hợp đồng được lấp đầy, PVD ước tính sẽ đạt hiệu suất sử dụng giàn khả quan và có thể tái ký hợp đồng với mức giá cho thuê giàn cao, trung bình dao động từ 100,000- 150,000 USD/ngày trong chu kỳ 2-3 năm tới.
Trong tình trạng các mỏ dầu nội địa đang dần cạn kiệt khiến việc thăm dò các mỏ mới càng trở nên cấp thiết. Đặc biệt cuộc chiến tại Trung Đông càng đẩy nhanh quá trình này, mở ra cơ hội cho mảng kỹ thuật giếng khoan của PVD, đây cũng là mảng thường xuyên đóng góp khoảng 35-40% doanh thu của PVD. Giàn khoan PVD I ước tính sẽ hết khấu hao vào năm 2028 giúp tiết giảm chi phí cho PVD.
Nhìn chung, MBS đưa ra quan điểm tích cực tác động đến từ Luật Dầu khí (sửa đổi) lên doanh nghiệp dầu khí thượng nguồn nhưng kết quả kinh doanh của PVS và PVD còn phụ thuộc nhiều vào chu kỳ giá dầu/giá thuê giàn khoan quốc tế.
Tương tự, Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cũng nhận định PVD và PVS là hai doanh nghiệp có khả năng hưởng lợi rõ nét nhất nếu các thay đổi của Luật Dầu khí (sửa đổi) hỗ trợ đẩy nhanh hoạt động thăm dò - phát triển mỏ.
Đối với PVD, VDSC cho rằng việc gia tăng hoạt động thăm dò, thẩm lượng và phát triển mỏ sẽ thúc đẩy nhu cầu giàn khoan và dịch vụ kỹ thuật giếng khoan. Các hoạt động nâng cao hệ số thu hồi và kéo dài vòng đời mỏ cũng có thể gia tăng nhu cầu khoan bổ sung và sửa chữa giếng.
Nhu cầu trong nước hiện đã có dấu hiệu cải thiện, thể hiện qua các hợp đồng phục vụ chiến dịch khoan năm 2026 của PVD tại Lô 15-1, Lô 12/11 và mỏ Hải Sư Đen.
Còn với PVS, tác động có thể đến muộn hơn khi các dự án chuyển sang giai đoạn phát triển mỏ, qua đó tạo thêm cơ hội cho mảng thiết kế, mua sắm, xây lắp và dịch vụ công trình biển.
Về dài hạn, việc mở rộng hành lang pháp lý sang năng lượng ngoài khơi và CCS cũng có thể mở rộng dư địa công việc cho PVS dựa trên năng lực cơ khí chế tạo và xây lắp ngoài khơi hiện hữu. Tuy nhiên, đây chưa thể xem là động lực lợi nhuận đáng kể trong ngắn hạn.
Ngoài ra, VDSC đánh giá GAS có thể hưởng lợi gián tiếp trong trung - dài hạn nếu các phát hiện khí được thương mại hóa và bổ sung nguồn khí nội địa cho hệ thống thu gom, vận chuyển và phân phối. Trong khi đó, tác động trực tiếp đối với PVT, BSR, PLX và OIL tương đối hạn chế do hoạt động kinh doanh chính nằm ở các khâu sau của chuỗi giá trị.