[Infographic] Xuất khẩu nông lâm thủy sản tăng 7%, đạt gần 49,31 tỷ USD

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 8 tháng năm 2026 đạt gần 49,31 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ, trong đó rau quả, thủy sản và chăn nuôi tiếp tục là những điểm sáng.
xuat-khau-nong-lam-thuy-san-1788450247.png

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hoạt động xuất khẩu nông lâm thủy sản trong tháng 8/2026 ước mang về 6,47 tỷ USD, giảm 3,5% so với tháng 7 nhưng vẫn cao hơn 3,6% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 8 tháng, tổng giá trị xuất khẩu đạt gần 49,31 tỷ USD.

Trong cơ cấu này, nông sản đạt 25,66 tỷ USD, tăng 2,7%; lâm sản đạt 12,57 tỷ USD, tăng 5,4%; thủy sản đạt 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%. Đáng chú ý, đầu vào sản xuất tăng tới 64,8%, đạt 2,61 tỷ USD, trong khi sản phẩm chăn nuôi đạt 511,9 triệu USD, tăng 30%. Giá trị xuất khẩu muối cũng tăng 44,4%, lên 10,4 triệu USD.

Xét về thị trường, châu Á tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu, chiếm 45,5% thị phần xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản chính của Việt Nam. Châu Mỹ chiếm 21,5%, châu Âu 13,4%, trong khi châu Phi và châu Đại Dương lần lượt chiếm 2,3% và 1,5%. So với cùng kỳ năm 2025, xuất khẩu sang châu Á tăng 11,3%, châu Mỹ tăng 0,6%, châu Âu tăng 1,7% và châu Đại Dương tăng 16,4%. Ngược lại, thị trường châu Phi giảm 18,3%.

Ở nhóm thị trường quốc gia, Trung Quốc tiếp tục là điểm đến lớn nhất với 22,7% thị phần, tiếp theo là Hoa Kỳ 19,1% và Nhật Bản 6,8%. Xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 22,1%, Nhật Bản tăng 2%, còn Hoa Kỳ giảm 0,4%.

Trong bức tranh chung, rau quả nổi lên là một trong những động lực tăng trưởng đáng chú ý. Tháng 8/2026, giá trị xuất khẩu mặt hàng này ước đạt 1,24 tỷ USD, nâng tổng kim ngạch 8 tháng lên 6,02 tỷ USD, tăng 24,9%. Trung Quốc chiếm tới 58,9% tổng giá trị xuất khẩu rau quả của Việt Nam, tiếp đến là Hoa Kỳ 7,6% và Hàn Quốc 4,2%. Đáng chú ý, xuất khẩu sang ba thị trường này lần lượt tăng 33,1%, 14,4% và 9,6%.

Hạt tiêu cũng ghi nhận kết quả tích cực. Việt Nam xuất khẩu khoảng 21,2 nghìn tấn trong tháng 8, trị giá 138,6 triệu USD. Sau 8 tháng, lượng tiêu xuất khẩu đạt 190,1 nghìn tấn, tương ứng 1,24 tỷ USD, tăng 14,5% về lượng và 9,6% về giá trị.

Hoa Kỳ, Đức và Thái Lan là ba thị trường tiêu thụ lớn nhất, với thị phần lần lượt 27,2%, 6,2% và 4,5%. Trong đó, giá trị xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng 20,6%, Thái Lan tăng 64,4%, còn Đức giảm 17%. Với hạt điều, xuất khẩu tháng 8 ước đạt 61,9 nghìn tấn, trị giá 445,4 triệu USD. Tính chung 8 tháng, Việt Nam xuất khẩu 474 nghìn tấn, thu về 3,35 tỷ USD. Dù lượng giảm 1,7%, giá trị vẫn tăng 2%. Trung Quốc, Hoa Kỳ và Hà Lan tiếp tục là những thị trường lớn nhất của hạt điều Việt Nam, lần lượt chiếm 24,8%, 21,3% và 7,6%. Xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 18,3%, Hoa Kỳ tăng 10,2%, trong khi Hà Lan giảm 16%.

Ở lĩnh vực thủy sản, kim ngạch tháng 8 ước đạt 1,08 tỷ USD, đưa tổng giá trị 8 tháng lên 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%. Trung Quốc chiếm 24% thị phần, Hoa Kỳ 15,6% và Nhật Bản 13,7%. So với cùng kỳ, xuất khẩu thủy sản sang Trung Quốc tăng 37,1%, Hoa Kỳ tăng 2,5% và Nhật Bản tăng 2,3%. Trong 15 thị trường lớn nhất, Braxin tăng mạnh nhất với 39,1%.

Nhóm hàng chăn nuôi cũng tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Tháng 8, xuất khẩu đạt 72,8 triệu USD, nâng tổng giá trị 8 tháng lên 511,9 triệu USD, tăng 30%. Trong đó, sữa và sản phẩm sữa đạt 139,3 triệu USD, tăng 79,2%; thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ đạt 154,1 triệu USD, tăng 15,2%.

Trái với xu hướng tăng của nhiều nhóm hàng, một số sản phẩm chủ lực lại ghi nhận mức sụt giảm về giá trị. Đối với cà phê, tháng 8 Việt Nam xuất khẩu 123,8 nghìn tấn, trị giá 545,6 triệu USD. Lũy kế 8 tháng, lượng xuất khẩu đạt 1,3 triệu tấn, trị giá 6 tỷ USD, tăng 13,1% về khối lượng nhưng giảm 9,1% về giá trị. Đức, Italia và Nhật Bản là ba thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất, lần lượt chiếm 13,2%, 8,2% và 7,1%. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu sang Đức giảm 17,4%, Italia giảm 1,2% và Nhật Bản giảm 7%.

Tình trạng tương tự diễn ra với cao su. Tháng 8, xuất khẩu ước đạt 148,1 nghìn tấn, trị giá 311,3 triệu USD. Sau 8 tháng, tổng lượng xuất khẩu đạt 936,1 nghìn tấn, trị giá 1,86 tỷ USD, giảm 16,1% về lượng và 6,2% về giá trị. Dù vậy, giá xuất khẩu bình quân đạt 1.986 USD/tấn, tăng 11,9%. Trung Quốc vẫn là thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất, chiếm 58,4% thị phần; tiếp theo là Ấn Độ 8,2% và Inđônêxia 7,4%. Xuất khẩu sang Trung Quốc giảm 20,3%, trong khi Ấn Độ tăng 49,7% và Indonesia tăng 2,6 lần.

Gạo cũng chịu áp lực tương tự. Tháng 8, xuất khẩu ước đạt 459,5 nghìn tấn, trị giá 240,6 triệu USD. Lũy kế 8 tháng, Việt Nam xuất khẩu 6 triệu tấn gạo, thu về 2,86 tỷ USD, giảm 6,3% về lượng và 11,9% về giá trị. Philippin là thị trường lớn nhất, chiếm 43,2% thị phần; Trung Quốc chiếm 18,4% và Gana 11%. Giá trị xuất khẩu sang Philippin giảm 5,1%, Gana giảm 12,3%, trong khi Trung Quốc tăng tới 92,2%.

Trong lĩnh vực lâm nghiệp, gỗ và sản phẩm gỗ vẫn giữ vai trò quan trọng. Tháng 8, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1,48 tỷ USD; tính chung 8 tháng đạt 11,69 tỷ USD, tăng 5%. Hoa Kỳ chiếm 49,9% thị phần, Trung Quốc 15% và Nhật Bản 12,4%. Trong khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm 5,8%, Trung Quốc tăng 46,4% và Nhật Bản tăng 5,8%. Mexico là thị trường tăng mạnh nhất trong nhóm 15 thị trường lớn, với mức tăng 2,1 lần; ngược lại, Ấn Độ giảm mạnh nhất, ở mức 30,3%.

Những kết quả trên cho thấy đà tăng trưởng xuất khẩu nông lâm thủy sản trong năm 2026 đang được hỗ trợ bởi sự bứt phá của rau quả, thủy sản, chăn nuôi và một số ngành hàng khác, qua đó góp phần cân bằng những khó khăn tại các mặt hàng như cà phê, cao su và gạo.

Đăng ký đặt báo