Đối với sầu Thái: Tăng 2.000 – 7.000 đồng/kg chạm mốc 97.000 đồng/kg.
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (Tiền Giang, Cai Lậy, Đồng Tháp), giá sầu Thái loại A dao động mức 92.000 – 97.000 đồng/kg, loại B dao động mức 72.000 – 77.000 đồng/kg, loại C dao động mức 47.000 – 50.000 đồng/kg.
Sầu riêng Thái dạt dao động mức 45.000 – 50.000 đồng/kg, kem Thái dao động mức 25.000 đồng/kg.
Thái lỗi dao động mức 75.000 – 80.000 đồng/kg.
Đối với sầu riêng Ri6:
Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thu mua loại A dao động mức 56.000 - 58.000 đồng/kg, loại B dao động mức 41.000 – 43.000 đồng, loại C thương lượng.

Ri6 dạt dao động mức 30.000 đồng/kg.
Các loại sầu riêng khác: Musang King tăng 8.000 – 10.000 đồng/kg đối với loại A
Sầu riêng Musang King loại A dao động mức 115.000 – 118.000 đồng/kg, loại B dao động mức 85.000 – 88.000 đồng/kg, loại C thương lượng;
Sầu riêng Chuồng Bò loại A dao động mức 63.000 – 65.000 đồng/kg; Sầu riêng Chuồng Bò hàng dạt dao động mức 35.000 đồng/kg.
Ở góc độ thị trường và xuất khẩu, theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit), kim ngạch xuất khẩu rau quả năm 2025 được dự báo đạt khoảng 8,59 tỷ USD, tăng gần 20% so với năm trước. Trong cơ cấu này, sầu riêng chiếm gần một nửa giá trị, tiếp tục khẳng định vị thế là mặt hàng chủ lực của ngành rau quả Việt Nam.
Đáng chú ý, sau giai đoạn gặp khó khăn liên quan đến các cảnh báo về dư lượng vàng O và cadimi, sầu riêng Việt Nam đã phục hồi nhanh nhờ việc siết chặt tiêu chuẩn đầu vào và kiểm soát chất lượng. Những vướng mắc từng khiến nhiều lô hàng xuất khẩu chững lại nay trở thành “cú huých” buộc doanh nghiệp và vùng trồng phải tái cấu trúc quy trình, tiêu chuẩn hóa sản xuất và củng cố niềm tin với thị trường nhập khẩu.
Xuất khẩu sầu riêng sang Trung Quốc vì vậy bật tăng trở lại, thậm chí vượt kỳ vọng, giúp Việt Nam tiếp tục duy trì lợi thế cạnh tranh trước Thái Lan – đối thủ lớn cả về sản lượng, thương hiệu lẫn kinh nghiệm thị trường. Tuy nhiên, việc Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) ban hành danh mục 5 loại dịch hại bắt buộc kiểm soát, cùng yêu cầu nghiêm ngặt về làm sạch, phân loại, đóng gói và truy xuất nguồn gốc, đang đặt ra thách thức mới.
Trong bối cảnh đó, truy xuất nguồn gốc không còn là câu chuyện kỹ thuật đơn thuần mà trở thành bài toán quản trị chuỗi giá trị bằng dữ liệu. Một quả sầu riêng được gắn mã số vùng trồng, có nhật ký chăm sóc, thời điểm thu hoạch và quy trình đóng gói rõ ràng sẽ mang “danh tính” thương mại cụ thể. Khi ấy, giá trị sản phẩm không chỉ nằm ở trọng lượng mà còn ở mức độ minh bạch, yếu tố khiến người mua sẵn sàng trả giá cao hơn.
Xu hướng này cũng mở ra dư địa để sầu riêng Việt Nam tiến sâu hơn vào các thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản hay Hàn Quốc, nơi yêu cầu khắt khe nhưng giá trị gia tăng mang lại cao hơn nhiều so với xuất khẩu thô truyền thống.