
Theo số liệu thống kê, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 2/2026 ước giảm 15,1% so với tháng 1/2026. Nguyên nhân chủ yếu do yếu tố mùa vụ khi kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 làm giảm số ngày sản xuất thực tế trong tháng, khiến hoạt động của một số ngành công nghiệp chủ lực bị gián đoạn.
Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 2 vẫn tăng 11,42%. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,37%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 11,29%; cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải tăng 7,53%. Riêng ngành khai khoáng đạt 89,73% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, nhiều ngành công nghiệp của Nghệ An ghi nhận mức tăng trưởng khá. Cụ thể, sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 20,5%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,29%; công nghiệp khai khoáng tăng 10,3%; cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải tăng 7,17% so với cùng kỳ năm trước.

Đà tăng trưởng của ngành công nghiệp chủ yếu nhờ nền kinh tế địa phương phục hồi tích cực, doanh nghiệp nỗ lực khôi phục sản xuất và chủ động mở rộng thị trường xuất khẩu. Nhiều sản phẩm công nghiệp có sản lượng tăng mạnh như tai nghe không gắn micro ước đạt 11,8 triệu chiếc, tăng 46,9%; nước mắm đạt khoảng 51,1 triệu lít, tăng 37,4%; đá xây dựng đạt 1,095 triệu m³, tăng 34,5%; dock sạc đạt 3,4 triệu chiếc, tăng 33%; ống thép Hoa Sen đạt 6,5 nghìn tấn, tăng 27,7%.
Ngoài ra, sản lượng điện sản xuất ước đạt 480,9 triệu kWh, tăng 21,54%; micro đạt 48,3 triệu chiếc, tăng 18,59%; bao bì và túi giấy đạt 7,6 triệu chiếc, tăng 16,5% so với cùng kỳ năm trước.
Bên cạnh những tín hiệu tích cực, hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn do thị trường xuất khẩu suy giảm, thiếu đơn hàng, giá nguyên vật liệu đầu vào tăng và khó khăn trong tuyển dụng lao động đáp ứng yêu cầu. Một số đối tác thay đổi công nghệ hoặc cắt giảm đơn hàng khiến doanh nghiệp phải bố trí công nhân nghỉ luân phiên, điều chỉnh kế hoạch sản xuất. Vì vậy, sản lượng một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ như thùng carton giảm 18,57%; sữa chua giảm 15,18%; loa BSE giảm 12,18%; sợi giảm 5,93%.

Trước thực tế này, thời gian qua UBND tỉnh Nghệ An đã chỉ đạo các sở, ngành và địa phương tăng cường đối thoại với doanh nghiệp, nhà đầu tư nhằm kịp thời nắm bắt và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tỉnh cũng ưu tiên hỗ trợ các dự án tạo động lực, sử dụng nhiều lao động tại Khu kinh tế Đông Nam và các khu, cụm công nghiệp; đồng thời rà soát phương án sản xuất, thúc đẩy các sản phẩm còn dư địa tăng trưởng.
Song song với đó, tỉnh tiếp tục hỗ trợ và đôn đốc đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghiệp để sớm đưa vào hoạt động, góp phần gia tăng năng lực sản xuất.
Theo lãnh đạo Sở Công Thương Nghệ An, sự phục hồi mạnh mẽ của tiêu dùng nội địa đang trở thành yếu tố quan trọng thúc đẩy sản xuất trong nhiều ngành công nghiệp, giúp tăng công suất hoạt động của các nhà máy và nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng trong nước. Bên cạnh đó, chính sách thương mại thuận lợi từ các thị trường xuất khẩu chủ lực cũng hỗ trợ doanh nghiệp đẩy nhanh tiến độ đơn hàng.
Đặc biệt, việc Hoa Kỳ điều chỉnh mức thuế đối ứng giảm từ 46% xuống 20% đã tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành sản xuất linh kiện điện tử, thiết bị điện và hàng công nghiệp chế tạo đẩy mạnh xuất khẩu. Trong bức tranh chung của ngành công nghiệp Nghệ An, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò là động lực tăng trưởng chính./.