Ba nhóm tiêu chí phân loại đô thị tăng trưởng xanh

Nhằm cụ thể hóa các mục tiêu về phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu, Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định chi tiết về phân loại đô thị. Điểm nhấn quan trọng của văn bản này là việc xác lập rõ 3 nhóm tiêu chí cốt lõi để đánh giá đô thị tăng trưởng xanh, cùng hàng loạt chính sách ưu đãi hấp dẫn cho các dự án hạ tầng xanh.
do-th-xanh-1769151743.png
Đô thị tăng trưởng xanh phải đảm bảo 3 nhóm tiêu chí theo Nghị định số 35/2026/NĐ-CP. (Ảnh minh họa)

Ngày 22/1/2026, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định số 35/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết về phân loại đô thị. Đây được xem là hành lang pháp lý quan trọng để định hình lại bộ mặt các đô thị Việt Nam trong giai đoạn mới, hướng tới sự hiện đại, văn minh và thân thiện với môi trường.

Định nghĩa rõ về đô thị tăng trưởng xanh

Theo quy định mới, phát triển đô thị tăng trưởng xanh không chỉ là một khẩu hiệu mà được định nghĩa cụ thể là quá trình quy hoạch, đầu tư xây dựng đảm bảo các yếu tố về tăng trưởng xanh, hạ tầng xanh, không gian xanh và công trình xanh.

Quá trình này phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc phù hợp với quy hoạch cấp tỉnh và quốc gia, đồng thời thích ứng linh hoạt với điều kiện đặc thù của từng vùng miền. Đặc biệt, Nghị định nhấn mạnh việc phát triển đô thị – dù là cải tạo, chỉnh trang hay xây mới – đều phải gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, phòng chống thiên tai và bảo vệ tài nguyên nước.

Bên cạnh đó, các đô thị cần chú trọng giữ gìn, bảo tồn các giá trị lịch sử, di sản văn hóa, đồng thời duy trì hành lang thoát lũ và cảnh quan thiên nhiên.

Nghị định 35/2026/NĐ-CP đã đưa ra bộ khung kỹ thuật cụ thể để đánh giá một đô thị có đạt chuẩn "tăng trưởng xanh" hay không, dựa trên 3 nhóm tiêu chí chính.

Nhóm tiêu chí về Hạ tầng xanh. Đây là nhóm tiêu chí tập trung vào khả năng kết nối và tiện ích công cộng thân thiện môi trường. Để đạt chuẩn, đô thị cần đáp ứng các chỉ số về tỷ lệ vận tải hành khách công cộng và tỷ lệ xe buýt sử dụng năng lượng xanh. Ưu tiên đường dành riêng cho xe đạp và hạn chế phương tiện cá nhân phát thải. Hệ thống chiếu sáng đô thị phải sử dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng hoặc năng lượng tái tạo. Đảm bảo tỷ lệ dân số được cấp nước sạch tập trung và diện tích đất cây xanh công cộng bình quân đầu người đạt chuẩn.

Đối với nhóm tiêu chí về Môi trường. Chất lượng sống của cư dân được đặt lên hàng đầu thông qua các chỉ số khắt khe về chỉ số chất lượng không khí (AQI). Kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ ngày trong năm có nồng độ bụi mịn và bụi siêu mịn vượt ngưỡng cho phép. Tỷ lệ thu gom, xử lý đạt chuẩn đối với chất thải rắn sinh hoạt và nước thải sinh hoạt.

Cuối cùng là nhóm tiêu chí về Năng lượng và Giảm phát thải. Đô thị cần chứng minh hiệu quả qua tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo trong tổng tiêu thụ năng lượng. Khuyến khích mô hình nhà dân sử dụng điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu. Gia tăng số lượng các công trình xanh được chứng nhận.

phan-loai-rac-tai-nguon-1769151772.webp
Tỷ lệ thu gom, xử lý đạt chuẩn đối với chất thải rắn sinh hoạt và nước thải sinh hoạt là một yếu tố trong tiêu chí Môi trường. (Ảnh minh họa)

Loạt ưu đãi hấp dẫn để thu hút đầu tư xanh

Để hiện thực hóa các tiêu chí trên, Nghị định cũng mở ra cơ chế ưu đãi mạnh mẽ về tài chính và đất đai.

Cụ thể, các dự án đầu tư xây dựng tại đô thị nếu thực hiện tốt các tiêu chí tăng trưởng xanh sẽ được Nhà nước bảo lãnh tín dụng để vay vốn đầu tư. Chủ đầu tư cũng có cơ hội tiếp cận nguồn vốn ưu đãi từ các quỹ bảo vệ môi trường hoặc các quỹ liên quan đến biến đổi khí hậu.

Về thuế, chủ đầu tư sẽ được hưởng các chính sách hoàn thuế, khấu trừ hoặc miễn giảm thuế khi rót vốn vào các hạng mục hạ tầng xanh, công trình xanh, hệ thống xử lý nước thải và rác thải.

Về đất đai, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm ưu tiên bố trí quỹ đất đã giải phóng mặt bằng để phục vụ các dự án xây dựng hạ tầng xanh và công trình công cộng sử dụng năng lượng sạch. Ngân sách địa phương cũng sẽ được bố trí để đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý đô thị trong lĩnh vực này.

Cũng trong Nghị định này, quy trình công nhận loại đô thị (loại I, II, III) được quy định chặt chẽ về mặt thủ tục và thời gian.

Đối với đô thị loại I, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ giao cơ quan chuyên môn lập đề án hoặc thuê đơn vị tư vấn. Sở Xây dựng đóng vai trò đầu mối thẩm tra, lấy ý kiến các sở ngành liên quan trong thời hạn 5 ngày làm việc và hoàn thiện hồ sơ trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,. Sau khi được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua, hồ sơ sẽ được gửi tới Bộ Xây dựng để thẩm định và ra quyết định công nhận,.

Đối với đô thị loại II và III, quy trình cũng được phân cấp cụ thể, trong đó Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giữ vai trò quyết định công nhận sau khi có nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Thời gian để công bố quyết định công nhận loại đô thị là tối đa 15 ngày đối với đô thị loại I và 10 ngày đối với các loại đô thị còn lại.

Với việc ban hành Nghị định 35/2026/NĐ-CP, Chính phủ đã tạo ra một "thước đo" chuẩn xác và động lực mạnh mẽ để các địa phương chuyển mình, hướng tới mô hình đô thị hiện đại, xanh và bền vững.

Đăng ký đặt báo