Xuất khẩu tăng mạnh, Việt Nam vẫn nhập siêu gần 20 tỷ USD

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong 9 tháng năm 2026 đạt hơn 888 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ. Dù riêng tháng 9 cán cân thương mại đã trở lại trạng thái xuất siêu, tính chung 9 tháng, Việt Nam vẫn nhập siêu 19,42 tỷ USD, điều này cho thấy áp lực từ nhu cầu nhập khẩu đầu vào và sự phụ thuộc vào nguyên liệu, linh kiện nước ngoài vẫn còn lớn.
xuat-nhap-khau-1791342154.jpeg
Tháng 9 xuất siêu 1,27 tỷ USD, nhưng nhìn chung 9 tháng vẫn nhập siêu 19,42 tỷ USD.

Xuất khẩu tăng nhanh nhưng nhập khẩu còn tăng mạnh hơn

Theo số liệu Cục Thống kê công bố, tháng 9 ghi nhận sự bứt phá của hoạt động ngoại thương khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 117,69 tỷ USD, tăng 7,3% so với tháng trước và tăng 42,4% so với cùng kỳ năm 2025. Xuất khẩu đạt 59,48 tỷ USD, còn nhập khẩu đạt 58,21 tỷ USD, lần lượt tăng 39,1% và 45,8% so với cùng kỳ. Nhờ đó, cán cân thương mại trong tháng đạt mức xuất siêu 1,27 tỷ USD, sau 9 tháng liên tiếp ghi nhận nhập siêu.

Tuy nhiên, kết quả tích cực trong tháng cuối quý III chưa làm thay đổi bức tranh chung của 9 tháng. Lũy kế đến hết tháng 9, Việt Nam xuất khẩu 434,30 tỷ USD hàng hóa, tăng 24,5%, trong khi nhập khẩu đạt 453,72 tỷ USD, tăng tới 36,7%. Như vậy, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 19,42 tỷ USD, trái ngược với mức xuất siêu 16,87 tỷ USD của cùng kỳ năm trước.

Đáng chú ý, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tiếp tục đóng vai trò chủ lực trong hoạt động xuất khẩu. Trong 9 tháng, khu vực này đạt 350,41 tỷ USD, tăng 29,4% và chiếm 80,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong khi đó, khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 83,89 tỷ USD, tăng 7,5%.

Cơ cấu xuất khẩu tiếp tục nghiêng mạnh về nhóm công nghiệp chế biến. Trong 9 tháng, có 35 mặt hàng đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên, đóng góp 94,3% tổng kim ngạch xuất khẩu. Riêng 7 mặt hàng có giá trị trên 10 tỷ USD chiếm 70,7%.

Điện tử, máy tính và linh kiện đứng đầu với 123,659 tỷ USD, tăng 59,6% so với cùng kỳ. Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 55,013 tỷ USD, tăng 27,9%; điện thoại và linh kiện đạt 51,768 tỷ USD, tăng 18,8%. Các nhóm hàng lớn khác gồm dệt may đạt 30,323 tỷ USD, giày dép 18,044 tỷ USD, phương tiện vận tải và phụ tùng 15,082 tỷ USD, gỗ và sản phẩm gỗ 13,3 tỷ USD.

Xét theo nhóm ngành, hàng công nghiệp chế biến đạt 392,79 tỷ USD, tương đương 90,4% tổng kim ngạch xuất khẩu. Nông sản, lâm sản đạt 30 tỷ USD; thủy sản 9,10 tỷ USD; nhiên liệu và khoáng sản đạt 2,41 tỷ USD.

Ở chiều ngược lại, nhập khẩu tăng với tốc độ cao hơn xuất khẩu. Trong 9 tháng, nhóm tư liệu sản xuất đạt 426,92 tỷ USD, chiếm tới 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu. Trong đó, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 58,3%, nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 35,8%. Điện tử, máy tính và linh kiện tiếp tục là nhóm nhập khẩu lớn nhất với 188,941 tỷ USD, tăng 71,7%. Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 53,947 tỷ USD, tăng 21,9%. Một số mặt hàng có kim ngạch lớn khác gồm vải, kim loại thường, chất dẻo nguyên liệu và ô tô.

Theo Cục Thống kê, tốc độ tăng nhập khẩu cao hơn xuất khẩu là yếu tố cần tiếp tục theo dõi do tốc độ tăng nhập khẩu hiện cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng xuất khẩu. Một số ngành xuất khẩu chủ lực, nhất là điện tử, vẫn phụ thuộc phần lớn vào nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu. Cán cân thương mại giữa hai khu vực là kinh tế trong nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có sự chênh lệch rõ rệt khi một bên nhập siêu, một bên xuất siêu. Điều này cho thấy những hạn chế về năng lực cung ứng đầu vào, công nghiệp hỗ trợ, đồng thời tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước còn thấp.

Cần nâng chất lượng cán cân thương mại

Sự trở lại của trạng thái xuất siêu trong tháng 9 được đánh giá là tín hiệu tích cực, song chưa đủ để khẳng định cán cân thương mại đã chuyển sang xu hướng bền vững.

can-can-thuong-mai-1791342995.jpg
Tháng 9 xuất siêu trở lại nhưng chưa đủ để khẳng định xu hướng bền vững.

TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TP.HCM, cũng đồng tình Việt Nam đã quay trở lại xuất siêu trong tháng 9 năm 2026 nhưng tính chung lũy kế 9 tháng năm 2026 thì nền kinh tế vẫn đang trong trạng thái nhập siêu. Con số này hoàn toàn trái ngược với mức xuất siêu 16,87 tỉ USD của cùng kỳ năm trước. Điều đáng chú ý là phía sau con số xuất siêu của tháng 9 có sự đóng góp của 2 nhóm động lực rất khác nhau. Một bên là khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo, đặc biệt là điện tử, máy tính, linh kiện và máy móc thiết bị, tạo ra quy mô xuất khẩu rất lớn, chiếm đến 80% kim ngạch xuất khẩu. Một bên là nông, lâm, thủy sản - nhóm hàng có quy mô nhỏ hơn nhưng lại tạo ra giá trị thặng dư nội địa rõ nét hơn. Do đó cần phải đánh giá một cách thực chất con số này.

Theo TS Phạm Viết Thuận, điểm khác biệt nằm ở khả năng giữ lại giá trị trong nền kinh tế. Nông, lâm, thủy sản dù không phải nhóm có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất nhưng có tỷ lệ đầu vào được hình thành trong nước tương đối cao. Vì vậy, doanh thu từ xuất khẩu có thể tạo ra tác động trực tiếp hơn đối với nông dân, doanh nghiệp chế biến, người lao động, vận tải, kho bãi và các dịch vụ liên quan.

Thống kê của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, trong 9 tháng, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt khoảng 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ. Riêng 6 tháng đầu năm, nhóm này xuất khẩu 35,88 tỷ USD, trong khi nhập khẩu khoảng 26,6 tỷ USD, qua đó tạo mức xuất siêu hơn 9 tỷ USD.

Trái lại, một số ngành công nghiệp chế biến có quy mô xuất khẩu rất lớn nhưng đồng thời phải nhập khẩu lượng đáng kể linh kiện, nguyên liệu và máy móc. Riêng nhóm điện tử trong 9 tháng có mức nhập siêu khoảng 65,28 tỷ USD. Điều này cho thấy kim ngạch xuất khẩu cao chưa đồng nghĩa với việc phần giá trị tạo ra và được giữ lại trong nước cũng tương ứng.

Ở góc độ thu hút đầu tư, ông Bùi Minh Giáp, chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), cho rằng hiệu quả của các dự án FDI cần được đánh giá dựa trên mức độ gắn kết với doanh nghiệp trong nước.

Ông Bùi Minh Giáp, chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), phân tích: Khi một tập đoàn đầu tư vào điện tử, bán dẫn, ô tô, năng lượng hay công nghệ tại Việt Nam thì thành công cần được đo đếm bằng sự liên kết với doanh nghiệp trong nước và chuyển giao kỹ năng, công nghệ; đào tạo kỹ sư cũng như các nhà quản lý trong nước; hoạt động nghiên cứu và triển khai tại chỗ. Đặc biệt là sự cải thiện năng suất, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong hệ sinh thái đó. Việt Nam cần phải chuyển từ tư duy thu hút dự án FDI sang xây dựng hệ sinh thái xung quanh FDI. Như vậy sẽ tạo ra được tác động lan tỏa lớn cho nền kinh tế trong nước.

Trong 9 tháng, Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với khoảng 140 tỷ USD, trong khi Trung Quốc giữ vị trí thị trường nhập khẩu lớn nhất với 187,34 tỷ USD. Việt Nam xuất siêu 122,62 tỷ USD sang Hoa Kỳ, 36,06 tỷ USD sang EU và 2,65 tỷ USD sang Nhật Bản. Ngược lại, mức nhập siêu từ Trung Quốc lên tới 121,48 tỷ USD, từ Hàn Quốc 43,75 tỷ USD và ASEAN 15,49 tỷ USD.

Không chỉ hàng hóa, hoạt động thương mại dịch vụ cũng tăng trưởng. 9 tháng, xuất khẩu dịch vụ đạt khoảng 26,10 tỷ USD, tăng 18,5%, trong đó du lịch đạt 13,06 tỷ USD và vận tải 7,81 tỷ USD. Nhập khẩu dịch vụ đạt 34,31 tỷ USD, tăng 15%, khiến cán cân dịch vụ nhập siêu 8,21 tỷ USD.

Trong bối cảnh đó, bài toán đặt ra cho những tháng cuối năm không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hay tạo ra những tháng xuất siêu, mà quan trọng hơn là nâng chất lượng cán cân thương mại. Muốn xuất siêu bền vững, Việt Nam cần giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn cung nhập khẩu, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng tỷ lệ nội địa hóa và tăng khả năng tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI.

Đăng ký đặt báo