Từ năm 2027, hộ nông nghiệp có mức sống trung bình được xác định thế nào?

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất điều chỉnh tiêu chí xác định hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình giai đoạn 2027-2030, theo hướng nâng ngưỡng thu nhập, bổ sung tiêu chí thiếu hụt dịch vụ xã hội và tăng khai thác dữ liệu sẵn có.
ho-nong-nghiep-1791285353.jpg
Hộ nông nghiệp có mức sống trung bình sẽ áp dụng chuẩn thu nhập mới.

Hơn 14,5 triệu lượt người được hỗ trợ bảo hiểm y tế

Ngày 5/10, Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoàn tất dự thảo tờ trình Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí xác định hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình giai đoạn 2027-2030, đồng thời gửi hồ sơ sang Bộ Tư pháp để thẩm định.

Đề xuất mới được xây dựng trên cơ sở tổng kết quá trình thực hiện Quyết định số 24/2021/QĐ-TTg và thực tiễn triển khai chính sách hỗ trợ bảo hiểm y tế cho nhóm hộ này trong giai đoạn 2022-2025. Theo cơ quan soạn thảo, việc điều chỉnh là cần thiết khi mặt bằng đời sống thay đổi, mô hình sinh kế của người dân nông thôn ngày càng đa dạng và yêu cầu quản lý an sinh xã hội cũng chuyển sang hướng số hóa, liên thông dữ liệu.

Trong giai đoạn 2022-2025, chính sách xác định hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình đã tạo cơ sở để hàng triệu người dân tiếp cận hỗ trợ bảo hiểm y tế. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, khoảng 6,55 triệu lượt hộ được xác định thuộc nhóm này trong bốn năm.

Từ kết quả rà soát, hơn 14,57 triệu lượt người đã được ngân sách nhà nước hỗ trợ tham gia bảo hiểm y tế. Chính sách góp phần mở rộng diện bao phủ bảo hiểm y tế, đồng thời giảm áp lực chi phí khám, chữa bệnh đối với các hộ chưa thuộc diện nghèo hoặc cận nghèo nhưng vẫn còn hạn chế về khả năng tài chính.

Bên cạnh mức hỗ trợ từ ngân sách Trung ương theo quy định, nhiều địa phương cũng chủ động bố trí thêm nguồn lực. Có 25/34 địa phương hỗ trợ bổ sung kinh phí mua thẻ bảo hiểm y tế cho nhóm đối tượng này. Một số địa phương nâng mức hỗ trợ thêm tới 70%, gồm Tuyên Quang, Lai Châu, Hưng Yên, Quảng Ngãi và Tây Ninh. Quảng Ninh hỗ trợ thêm 50%, trong khi Hà Nội, Bắc Ninh, Lâm Đồng, Đắk Lắk và Đồng Tháp hỗ trợ thêm 30%.

Tổng nguồn lực được bố trí và mức độ bao phủ có sự khác biệt giữa các địa phương. Những nơi có khả năng cân đối ngân sách tốt có điều kiện hỗ trợ gần như toàn bộ đối tượng thuộc diện chính sách. Trong khi đó, tại các địa bàn khó khăn, nhất là khu vực miền núi, việc hỗ trợ chủ yếu dừng ở mức tối thiểu, khiến số người tham gia còn hạn chế. Chẳng hạn, Lào Cai chỉ bố trí khoảng 2,39 tỷ đồng trong cả giai đoạn bốn năm.

Quy mô đối tượng thụ hưởng cũng không giống nhau giữa các địa phương. Một số tỉnh có số lượt hộ được xác định ở mức cao như Nghệ An với 1.571.660 lượt hộ và Bắc Ninh với 1.454.156 lượt hộ. Ngược lại, tại những địa phương có tốc độ đô thị hóa nhanh, số hộ thuộc nhóm này có xu hướng giảm đáng kể. Quảng Ninh là trường hợp điển hình khi quy mô đối tượng giảm hơn 50%.

Những biến động trên cho thấy sinh kế của người dân đang chịu tác động đồng thời từ quá trình đô thị hóa, thị trường lao động, điều kiện sản xuất và các rủi ro như thiên tai, dịch bệnh. Đây cũng là một trong những cơ sở để cơ quan quản lý xem xét lại phương thức xác định hộ có mức sống trung bình trong giai đoạn tiếp theo.

Nâng ngưỡng thu nhập, bổ sung tiêu chí thiếu hụt dịch vụ

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, một trong những hạn chế của quy định hiện hành là tiêu chí chủ yếu dựa trên thu nhập. Mức áp dụng hiện nay ở khu vực nông thôn từ hơn 1,5 triệu đồng đến 2,25 triệu đồng/người/tháng, còn khu vực thành thị trên 2 triệu đồng đến 3 triệu đồng/người/tháng. Sau một thời gian thực hiện, các mức này được đánh giá đã thấp hơn đáng kể so với mặt bằng đời sống hiện nay, khiến việc phân loại đối tượng chưa còn phù hợp.

ho-nong-nghiep1-1791285586.jpg
Việc bổ sung tiêu chí về thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản được xây dựng theo hướng thống nhất với chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030.

Không chỉ vấn đề về ngưỡng thu nhập, cơ cấu sinh kế của hộ gia đình nông thôn cũng đã thay đổi. Nhiều hộ không còn chỉ dựa vào trồng trọt, chăn nuôi, khai thác thủy sản hoặc sản xuất muối mà kết hợp thêm kinh doanh, dịch vụ, lao động làm thuê hoặc các nguồn thu phi nông nghiệp khác. Vì vậy, nếu chỉ căn cứ vào một ngưỡng thu nhập cố định sẽ khó phản ánh đầy đủ điều kiện sống và khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản của từng hộ.

Từ thực tiễn này, dự thảo mới đề xuất xác định đối tượng dựa trên ba nhóm tiêu chí gồm hộ gia đình thực sự làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp; mức thu nhập; cùng mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản.

Việc bổ sung tiêu chí về thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản được xây dựng theo hướng thống nhất với chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030. Cách làm này giúp hạn chế tình trạng phải xây dựng nhiều bộ tiêu chí riêng cho từng chính sách, đồng thời tạo sự đồng bộ hơn trong hệ thống an sinh xã hội.

Đáng chú ý, ngưỡng thu nhập mới được đề xuất ở mức từ 2,2 triệu đồng đến 3,9 triệu đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn và từ 2,8 triệu đồng đến 4,7 triệu đồng/người/tháng đối với khu vực đô thị. Các mức này được xây dựng trong tương quan với chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030.

Bên cạnh đó, cơ quan soạn thảo nghiên cứu cách tiếp cận dựa trên mức thu nhập trung vị của nhóm hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp. Theo hướng này, việc xác định đối tượng có thể phản ánh sát hơn mặt bằng thu nhập thực tế, đồng thời hạn chế ảnh hưởng từ những trường hợp có mức thu nhập quá cao hoặc quá thấp.

Một điểm khác được chú trọng là xác định đúng bản chất của hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp. Theo đó, không chỉ dựa vào quan hệ thành viên hay sự liên kết trên phương diện tổ chức, việc xác định cần phản ánh hoạt động sản xuất thực tế của hộ. Đây là cơ sở để tránh trường hợp những hộ không thực sự tham gia sản xuất vẫn được đưa vào nhóm đối tượng thụ hưởng.

Cùng với việc thay đổi tiêu chí, dự thảo cũng hướng tới giảm số lần điều tra, xác minh. Thay vì tổ chức một quy trình riêng cho hộ có mức sống trung bình bên cạnh rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo, cơ quan soạn thảo đề xuất lồng ghép các hoạt động này và tận dụng dữ liệu đã có.

Nguyên tắc được đặt ra là kế thừa kết quả đã xác định, khai thác dữ liệu sẵn có và chỉ tiến hành xác minh đối với những thông tin còn thiếu hoặc có biến động. Cách tiếp cận này được kỳ vọng giảm khối lượng công việc cho chính quyền cấp cơ sở, hạn chế việc người dân phải cung cấp lại cùng một thông tin nhiều lần và phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý dân cư, an sinh xã hội.

Theo dự thảo, kết quả cuối cùng sẽ được thể hiện thông qua Quyết định công nhận hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình do Chủ tịch UBND cấp xã ban hành.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đánh giá việc điều chỉnh tiêu chí không chỉ nhằm phục vụ chính sách hỗ trợ bảo hiểm y tế trong giai đoạn tới mà còn tạo cơ sở dữ liệu và phương thức xác định đối tượng cho các chính sách an sinh khác. Khi tiêu chí sát thực tế hơn và quy trình được liên thông với hệ thống rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo, nguồn lực hỗ trợ có điều kiện tập trung đúng nhóm cần thiết, đồng thời nâng cao tính công bằng và minh bạch trong thực hiện chính sách.

Theo tính toán của cơ quan soạn thảo, tổng nguồn lực ngân sách nhà nước dự kiến cần bố trí cho chính sách trong giai đoạn 2027-2030 khoảng 6.131 tỷ đồng. Dự thảo được kỳ vọng tiếp tục củng cố mạng lưới an sinh y tế cho người dân khu vực nông nghiệp, nông thôn, đồng thời bảo đảm việc thực hiện phù hợp với khả năng cân đối ngân sách Trung ương và địa phương trong trung hạn.

Nếu được ban hành, Quyết định dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/1/2027.

Đăng ký đặt báo