Khoản 1 điều Điều 144 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:
Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.
Khoản 1 điều 57 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền:
- Được thông báo về hành vi bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố;
- Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
- Trình bày lời khai, trình bày ý kiến;
- Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
- Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
- Tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
- Được thông báo kết quả giải quyết tố giác, kiến nghị khởi tố;
- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Khoản 2 điều 56 quy định người bị tố giác phải có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác.
Theo quy định tại điều 143 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì tin tố giác của cá nhân khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm thì sẽ là căn cứ để Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng khởi tố vụ án hình sự.
Do đó, khi người dân bị tố giác làm việc với cán bộ điều tra, thì cán bộ điều tra buộc phải cung cấp nội dung tố giác cho người bị tố giác. Nếu cán bộ điều tra không cung cấp nội dung tố giác cho người bị tố giác, thì người bị tố giác có quyền từ chối làm việc và gửi đơn khiếu nại đối với hành vi vi phạm tố tụng của cán bộ điều tra đến cơ quan có thẩm quyền.