Từ ngày 5/10/2026, 7 hồ chứa trên lưu vực sông Hồng gồm Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang, Lai Châu, Bản Chát và Huội Quảng áp dụng quy trình vận hành mới. Quy trình đặt an toàn công trình, chống lũ hạ du và bảo đảm nguồn nước trong các nhiệm vụ ưu tiên, đồng thời tăng khả năng phối hợp điều tiết toàn hệ thống.
Quy trình vận hành liên hồ chứa sông Hồng được ban hành tại Quyết định số 1928/QĐ-TTg ngày 5/10/2026. Các quy định bao quát hoạt động trong mùa lũ và mùa cạn, từ kiểm soát mực nước, bố trí dung tích phòng lũ đến tích nước, cấp nước và phát điện.
Việc điều hành hệ thống hồ gắn với dự báo khí tượng thủy văn, diễn biến dòng chảy và nhu cầu sử dụng nước ở hạ du. Sự phối hợp giữa các công trình là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả điều tiết, chủ động ứng phó với lũ lớn và nguy cơ thiếu nước.
Quy trình vận hành liên hồ chứa sông Hồng áp dụng từ ngày 5/10/2026
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1928/QĐ-TTg ban hành Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng, có hiệu lực từ ngày ký. Bảy hồ tham gia gồm Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang, Lai Châu, Bản Chát và Huội Quảng.
Quyết định thay thế Quyết định số 740/QĐ-TTg ngày 17/6/2019 và Quyết định số 922/QĐ-TTg ngày 14/5/2025 về sửa đổi, bổ sung quy trình trước đây. Các quy trình vận hành hồ chứa đã ban hành nhưng không phù hợp với quyết định mới phải được sửa đổi, bổ sung.
Hệ thống hồ có nhiệm vụ phối hợp điều tiết nguồn nước phục vụ nhiều mục tiêu. Trong mùa lũ, việc vận hành tập trung bảo vệ công trình và giảm nguy cơ lũ cho hạ du. Trong mùa cạn, nguồn nước được điều tiết để phục vụ sinh hoạt, sản xuất và các nhu cầu thiết yếu.
Theo EVN, vận hành liên hồ là giải pháp phi công trình giúp nâng cao hiệu quả phòng chống lũ, sử dụng nguồn nước hiệu quả và giảm nguy cơ hạn hán, thiếu nước trên lưu vực sông Hồng.
Quy trình xác định thời gian vận hành theo hai mùa. Mùa lũ bắt đầu từ ngày 15/6 và kết thúc ngày 31/10; mùa cạn kéo dài từ ngày 1/11 đến ngày 14/6 năm sau. Mùa lũ được chia thành ba thời kỳ để thực hiện các nhiệm vụ điều tiết tương ứng.
| Thời kỳ vận hành | Thời gian |
|---|---|
| Mùa lũ — thời kỳ thứ nhất | 15/6–19/7 |
| Mùa lũ — thời kỳ thứ hai | 20/7–31/8 |
| Mùa lũ — thời kỳ thứ ba | 1/9–31/10 |
| Mùa cạn | 1/11–14/6 năm sau |
Các mốc thời gian tạo cơ sở tổ chức vận hành, trong khi quyết định điều tiết cụ thể còn phụ thuộc vào tình trạng nguồn nước, dự báo và yêu cầu an toàn.

Ưu tiên chống lũ hạ du, kiểm soát mực nước sông Hồng tại Hà Nội
Trong mùa lũ, quy trình vận hành liên hồ chứa sông Hồng xác định ba nhiệm vụ theo thứ tự: an toàn công trình, an toàn chống lũ cho hạ du và hiệu quả phát điện. Việc tối ưu phát điện được thực hiện trên cơ sở đáp ứng các yêu cầu an toàn.
Đối với hạ du, quy trình đặt ra các mục tiêu kiểm soát mực nước tại trạm thủy văn Hà Nội, gắn với quy mô lũ tại trạm thủy văn Sơn Tây.
Với các trận lũ tại Sơn Tây có chu kỳ lặp lại nhỏ hơn hoặc bằng 300 năm, hệ thống hồ phải phối hợp vận hành nhằm bảo đảm an toàn cho đồng bằng Bắc Bộ, giữ mực nước tại trạm Hà Nội không vượt quá cao trình 13,1 m.
Với các trận lũ có chu kỳ lặp lại nhỏ hơn hoặc bằng 500 năm, mục tiêu bảo vệ Thủ đô Hà Nội gắn với cao trình 13,4 m tại trạm Hà Nội.
| Điều kiện lũ tại trạm Sơn Tây | Mục tiêu bảo vệ | Cao trình mực nước tại trạm Hà Nội |
|---|---|---|
| Chu kỳ lặp lại ≤300 năm | Đồng bằng Bắc Bộ | Không vượt 13,1 m |
| Chu kỳ lặp lại ≤500 năm | Thủ đô Hà Nội | Không vượt 13,4 m |
Thông tin dự báo trong 24 giờ và 5 ngày tới được sử dụng để đánh giá nguy cơ lũ, xác định nhu cầu hạ mực nước hồ và tạo dung tích phòng lũ. Cơ chế này giúp việc điều tiết bám sát diễn biến nguồn nước và trạng thái hệ thống.
Trong thời kỳ từ 20/7 đến 31/8, Sơn La và Hòa Bình tham gia điều tiết theo các ngưỡng mực nước dự báo tại Hà Nội. Tuyên Quang và Thác Bà cũng phối hợp cắt lũ khi mực nước sông Hồng lên cao.
Việc xả nước phải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của công trình và hạn chế tác động đến hạ du. Quy trình cho phép vận hành cửa xả phù hợp với điều kiện thiết bị, lưu lượng đến hồ và nhiệm vụ điều tiết chống lũ.
Riêng hồ Thác Bà, khi chưa hoàn thành phương án nâng cao năng lực xả lũ kiểm tra, mực nước cao nhất trong mùa lũ không được vượt cao trình 56 m, trừ trường hợp huy động dung tích chống lũ cho hạ du hoặc được cơ quan có thẩm quyền cho phép.
Chủ động tích nước, bảo đảm nguồn nước mùa cạn
Trong mùa cạn, các hồ phải ưu tiên an toàn công trình và an ninh nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất thiết yếu ở hạ du. Các nhiệm vụ tiếp theo gồm duy trì dòng chảy tối thiểu, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước khác và phát điện hiệu quả.
Quy trình tạo điều kiện xem xét tích nước sớm khi nguồn nước có nguy cơ thiếu hụt. Từ tháng 8, nếu dự báo mùa lũ kết thúc sớm và không còn khả năng xuất hiện lũ lớn, các hồ có thể được xem xét nâng dần mực nước. Cảnh báo El Niño hoặc nguy cơ thiếu nước cũng là cơ sở để cân nhắc chuẩn bị nguồn nước sớm cho mùa cạn.
Việc tích nước vẫn phải đáp ứng yêu cầu phòng chống lũ. Khi dự báo xuất hiện hình thế thời tiết có khả năng gây lũ trực tiếp đến lưu vực, các hồ phải xem xét duy trì hoặc hạ mực nước để dành dung tích đón lũ.
Điều tiết nguồn nước theo hệ thống giúp kết nối nhiệm vụ của các hồ ở thượng lưu với nhu cầu tại hạ du. Trong đó, thông tin về lượng nước đến hồ, mực nước hiện tại và dự báo là cơ sở để lựa chọn phương án vận hành phù hợp.
Quy trình đồng thời phân định trách nhiệm giữa cơ quan quản lý, đơn vị vận hành và chính quyền địa phương. Các đơn vị quản lý hồ tăng cường giám sát, quan trắc và cung cấp dữ liệu; địa phương triển khai phương án ứng phó, thông báo đến người dân khi có lệnh vận hành cửa xả.
Đối với khu vực hạ du, thông báo kịp thời giúp người dân và các đơn vị liên quan chủ động bố trí hoạt động ven sông, bảo vệ tài sản và thực hiện hướng dẫn của chính quyền.
Quyết định yêu cầu triển khai đồng bộ các giải pháp công trình và phi công trình, kết hợp vận hành hồ với hạ tầng phòng chống thiên tai, thủy lợi, thủy điện, cấp nước và quy hoạch liên quan.
Quy trình vận hành liên hồ chứa sông Hồng mới đặt trọng tâm vào phối hợp toàn hệ thống, bảo vệ hạ du và sử dụng nguồn nước hiệu quả. Việc thực hiện cần gắn chặt dữ liệu quan trắc, dự báo, điều hành hồ chứa và phương án ứng phó tại địa phương để đáp ứng nhiệm vụ trong cả mùa lũ và mùa cạn.
