Theo PGS.TS Trần Đình Thiên, Hà Nội có một hệ thống lợi thế mà ít địa phương có được. Đó là vị thế Thủ đô, đồng thời là trung tâm của vùng; khả năng tập trung các nguồn lực về quyết định chính sách, thị trường, tri thức, nhân tài; cùng nền tảng văn hiến, lịch sử và văn hóa tạo nên bản sắc riêng. Hà Nội cũng có quy mô kinh tế lớn, đi trước trong nhiều lĩnh vực và là một trong những trung tâm hội nhập quốc tế quan trọng của cả nước.

Tuy nhiên, theo ông, lợi thế chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được chuyển hóa thành năng lực. Với doanh nghiệp Thủ đô, giá trị không nằm đơn thuần ở việc sở hữu các nguồn lực, mà ở khả năng kết nối và sử dụng những nguồn lực đó để tạo ra sản phẩm, thị trường và giá trị mới.
Từ “lợi thế” sang “năng lực” để tạo dư địa tăng trưởng
Nhìn lại chặng đường phát triển, PGS.TS Trần Đình Thiên đặt vấn đề về khoảng cách giữa tiềm năng và kết quả tăng trưởng của Hà Nội. Trong giai đoạn 2011-2020, tốc độ tăng trưởng GRDP của Hà Nội đạt 6,83%/năm, trong khi mục tiêu chiến lược đặt ra ở mức 12-13%/năm. GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt khoảng 5.325 USD, tương đương 70% mục tiêu 7.100-7.500 USD. Đáng chú ý, trong giai đoạn này, tốc độ tăng GRDP của Hà Nội chỉ cao hơn khoảng 1,15 lần mức chung của cả nước.
Bức tranh những năm gần đây tiếp tục cho thấy dư địa tăng trưởng của Hà Nội còn rất lớn. Giai đoạn 2020-2024, tốc độ tăng trưởng GRDP của Hà Nội đạt 5,79%/năm, thấp hơn Hải Phòng, Hưng Yên và Quảng Ninh trong cùng bảng so sánh.
Điều này đặt ra câu hỏi lớn: Vì sao một địa phương sở hữu vị thế, nguồn lực và mức độ tập trung nhân lực vượt trội vẫn chưa tạo được tốc độ phát triển tương xứng với tiềm năng?
Theo PGS.TS Trần Đình Thiên, câu trả lời nằm ở năng lực tổ chức và phát huy nguồn lực. Hà Nội có lợi thế nhân lực rõ rệt khi tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo năm 2024 đạt 53,9%, cao hơn đáng kể mức 28,4% của cả nước, 37,5% của TP.HCM, 38% của Hải Phòng và 42,4% của Quảng Ninh. Nhưng bằng cấp mới chỉ là nền tảng; nhiệm vụ và cơ hội mới quyết định khả năng phát huy năng lực của con người.
Đây cũng là một trong những nghịch lý mà Hà Nội cần giải quyết: có nguồn nhân lực chất lượng nhưng chưa tạo đủ không gian để nguồn nhân lực đó chuyển hóa thành giá trị kinh tế.
Cấu trúc doanh nghiệp của Hà Nội vẫn mang nhiều nét tương đồng với mặt bằng chung cả nước. Năm 2024, doanh nghiệp có dưới 10 lao động chiếm 77,8%, nhóm từ 10-49 lao động chiếm 18,3%, trong khi doanh nghiệp từ 50 lao động trở lên chỉ chiếm 3,8%.
Trong khi đó, số lượng doanh nghiệp tăng nhanh hơn đáng kể so với khả năng tạo việc làm. Giai đoạn 2015-2024, số doanh nghiệp tăng 56,7%, nhưng lao động chỉ tăng 19,9%. Theo PGS.TS Trần Đình Thiên, đây là dấu hiệu cho thấy cần “mở đường” để doanh nghiệp tăng quy mô và nâng cao năng lực.
Từ góc nhìn phát triển doanh nghiệp, vấn đề của Hà Nội vì thế không chỉ là thành lập thêm doanh nghiệp mà phải tạo điều kiện để doanh nghiệp lớn lên, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và trở thành lực lượng dẫn dắt thị trường.
Muốn vậy, “bài toán hạ tầng cũng phải được nhìn nhận như một chính sách phát triển doanh nghiệp. Ùn tắc làm tăng thời gian và chi phí logistics; ngập úng gây gián đoạn hoạt động và phát sinh chi phí dự phòng; ô nhiễm tác động đến sức khỏe, chất lượng sống và khả năng giữ chân nhân lực. Những chi phí đô thị này cuối cùng đều trở thành chi phí của doanh nghiệp”, PGS.TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh.
Theo PGS.TS Trần Đình Thiên, Hà Nội cần thay đổi cách tiếp cận đối với nhân tài. Thay vì chỉ nhìn vào bằng cấp hay danh hiệu, cần tạo ra những nhiệm vụ đủ lớn để thu hút, sử dụng và kiểm chứng năng lực.
Từ đó, ông đề xuất cách tiếp cận trọng dụng tài năng thông qua những nhóm nhiệm vụ cụ thể. Người được lựa chọn dựa trên năng lực, được trao điều kiện thực hiện và đánh giá bằng kết quả. Báo cáo đề xuất khoảng 10 nhóm nhiệm vụ trong thời gian 12-24 tháng, đi kèm người sử dụng kết quả, dữ liệu, thiết bị, quyền hạn và phương thức trả công.
PGS.TS Trần Đình Thiên cho rằng Hà Nội cần xác lập một tầm nhìn phát triển khác biệt: đi trước - tiến vượt - hình mẫu. “Đi trước” là chuẩn bị điều kiện cho các hoạt động mới; “tiến vượt” là lựa chọn những nhiệm vụ lớn với chuẩn cạnh tranh cao; còn “hình mẫu” phải được chứng minh bằng những kết quả có thể kiểm chứng và nhân rộng.
Theo ông, Hà Nội đang đứng trước một thời điểm quan trọng khi các công cụ phát triển mới được mở ra thông qua quy hoạch, Luật Thủ đô và các chương trình phát triển giai đoạn 2026-2030. Quy hoạch hướng tới tầm nhìn 100 năm và mở rộng không gian phát triển; Luật Thủ đô tạo thêm quyền hành động; các chương trình giai đoạn 2026-2030 cần gắn nhiệm vụ với nguồn lực và kết quả.
Kinh tế số và công nghiệp văn hóa: Hai hướng tạo động lực mới
Từ yêu cầu nâng tầm vị thế Thủ đô, tham luận xác định hai tuyến phát triển cần đặc biệt ưu tiên là kinh tế số - đổi mới sáng tạo và công nghiệp văn hóa.
Theo mục tiêu năm 2030 được nêu trong Chương trình 04, kinh tế số được đặt mục tiêu chiếm 40% GRDP, trong khi công nghiệp văn hóa hướng tới tỷ trọng 8% GRDP. Đây là mục tiêu đến năm 2030, không phải kết quả đã đạt được.
Đối với kinh tế số và đổi mới sáng tạo, vấn đề không chỉ nằm ở công nghệ mà còn ở việc xây dựng một hệ sinh thái đủ mạnh để doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và nhà đầu tư cùng tham gia giải quyết các bài toán lớn của đô thị.

Tham luận đề xuất từ danh mục 30 bài toán lớn mà thành phố đã công bố, lựa chọn khoảng 10 bài toán đủ điều kiện để triển khai trước. Nhà nước giữ vai trò định hướng, hỗ trợ và tạo không gian chính sách; các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và nhà đầu tư cùng tham gia vào quá trình giải quyết.
Hòa Lạc được nhìn nhận như một không gian có khả năng hội tụ đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, qua đó tạo cộng hưởng về tri thức, công nghệ và nguồn lực. Mục tiêu không chỉ là đầu tư đất đai hay cơ sở vật chất, mà phải hình thành những nhiệm vụ chung, quyền hạn rõ ràng và hợp đồng thực chất, lấy sản phẩm và hiệu quả liên kết làm thước đo.
Ở hướng công nghiệp văn hóa, PGS.TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh văn hóa chỉ thực sự tạo ra giá trị kinh tế khi được tổ chức thành chuỗi, từ tài nguyên văn hóa, thiết kế và bản quyền đến sản xuất nội dung, phân phối, trải nghiệm và tái đầu tư sáng tạo. Đây cũng là cách tiếp cận giúp Hà Nội biến lợi thế về văn hiến, lịch sử và bản sắc thành các sản phẩm có khách hàng, doanh thu và thị trường ngoài Thủ đô.
Tăng trưởng phải được đo bằng sản phẩm và giá trị tạo ra
Đối với liên kết doanh nghiệp, thay vì dừng ở các chương trình kết nối chung chung, cần tổ chức liên kết bằng chuỗi sản phẩm và đơn hàng. Ba nhóm được đề xuất gồm giải pháp số cho đô thị và doanh nghiệp; thiết kế - làng nghề - thương hiệu - bán lẻ; nội dung - bản quyền - trải nghiệm văn hóa. Mục tiêu đề xuất cho năm 2027 là khoảng 20 bên mua kết nối với 200 nhà cung ứng tiềm năng, với kết quả được đo bằng hợp đồng, thanh toán và đơn hàng lặp lại.
Cùng với đó, việc triển khai các sáng kiến phát triển cần có mốc thời gian và trách nhiệm cụ thể. Trong 90 ngày đầu là lựa chọn nhiệm vụ, giao đầu mối và xác lập số liệu nền; trong 180 ngày tiếp theo công bố điều kiện, lựa chọn đối tác và khởi động thí điểm; giai đoạn 2027-2030 tiến hành đánh giá độc lập, mở rộng những mô hình hiệu quả và dừng những mô hình không đạt yêu cầu.
PGS.TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh ba quyết định có tính khởi động cho quá trình chuyển đổi mô hình phát triển của Thủ đô.
Thứ nhất, mở không gian cho quyền hành động, dữ liệu, hạ tầng và mặt bằng.
Thứ hai, giao những nhiệm vụ lớn cho nhân tài, doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu cùng giải quyết.
Thứ ba, gắn trách nhiệm với sản phẩm và giá trị tạo ra, thay vì chỉ đánh giá bằng quá trình hay nguồn lực.
Từ góc nhìn kinh tế, thông điệp cốt lõi của tham luận không đơn thuần là Hà Nội cần khai thác tốt hơn những lợi thế sẵn có. Quan trọng hơn, Thủ đô phải xây dựng được năng lực tổ chức nguồn lực, tạo ra những nhiệm vụ đủ lớn, trao quyền đi cùng trách nhiệm và hình thành các hệ sinh thái mà doanh nghiệp, nhân tài, trường viện và Nhà nước có thể cùng tạo ra giá trị./.