Khi “lá chắn xanh” bước vào kỷ nguyên số

Giữa những cánh rừng bạt ngàn của Tuyên Quang nơi từng gắn với hình ảnh những kiểm lâm viên lặng lẽ băng rừng, lội suối hôm nay, một diện mạo mới đang dần hiện hữu. Không chỉ là đôi chân bền bỉ và kinh nghiệm thực địa, lực lượng kiểm lâm giờ đây còn mang theo “hành trang số”: máy tính, dữ liệu, phần mềm và những nền tảng công nghệ hiện đại. Chuyển đổi số đang trở thành “đòn bẩy” giúp ngành kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng trong bối cảnh mới.

Hạ tầng số “mạch máu” vận hành thông suốt.

Tại Chi cục Kiểm lâm, hệ thống máy tính, mạng nội bộ và các thiết bị điện tử không còn là công cụ phụ trợ, mà đã trở thành nền tảng vận hành chính. Công tác kiểm tra, duy tu, bảo dưỡng và nâng cấp được thực hiện thường xuyên, đảm bảo toàn bộ hệ thống hoạt động ổn định, thông suốt.

kl3-1775807105.jpg
kl2-1775807104.jpg
Kiểm lâm viên trao đổi, xử lý thông tin trên hệ thống dữ liệu, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng trong thời đại số.

Nhờ đó, việc chỉ đạo, điều hành từ lãnh đạo Chi cục đến từng phòng chuyên môn, đơn vị trực thuộc được kết nối liền mạch, gần như không có độ trễ. Những hệ thống dùng chung của tỉnh như quản lý văn bản, giải quyết thủ tục hành chính, thư điện tử công vụ hay phần mềm quản lý cán bộ…được khai thác hiệu quả, tạo nên một “trục xương sống số” cho toàn ngành.

Đáng chú ý, các kênh thông tin điện tử như website của Sở Nông nghiệp và Môi trường hay fanpage của Chi cục không chỉ là nơi đăng tải thông tin, mà còn trở thành cầu nối hai chiều giữa kiểm lâm với người dân, doanh nghiệp nhanh chóng, minh bạch và đúng quy định.

Trao đổi với phóng viên, ông Đào Duy Tuấn, Chi cục trưởng - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang khẳng định: “Chuyển đổi số không chỉ giúp chúng tôi rút ngắn thời gian xử lý công việc mà quan trọng hơn là nâng cao tính minh bạch, chính xác trong quản lý. Từ chỉ đạo điều hành đến theo dõi diễn biến rừng, tất cả đều được số hóa, giúp lãnh đạo có thể nắm bắt tình hình kịp thời, đưa ra quyết định nhanh và sát thực tế hơn.”

kl6-1775807105.jpg
Cán bộ kiểm lâm băng rừng, vượt dốc trong hành trình tuần tra, kiểm soát, giữ gìn màu xanh của núi rừng.

Một trong những bước tiến rõ nét nhất của chuyển đổi số chính là cải cách thủ tục hành chính. Hiện nay, Chi cục Kiểm lâm đã phối hợp triển khai 48 dịch vụ công trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia. 100% thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền đều được chuẩn hóa quy trình nội bộ, liên thông và số hóa hoàn toàn.

Điều đó đồng nghĩa với việc người dân, doanh nghiệp không còn phải đi lại nhiều lần, không phải nộp đi nộp lại giấy tờ. Hồ sơ được số hóa ngay từ khâu tiếp nhận, kết quả xử lý cũng được trả trên môi trường điện tử.

Anh Vũ Quang Tuân, Kiêm lâm viên - Phòng Quản lý bảo vệ rừng và Bảo tồn thiên nhiên, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang, cho biết: “Trước đây khi cần tra cứu thông tin phải lật lại từng tập hồ sơ, mất nhiều thời gian. Nay chỉ cần vài thao tác là có thể truy xuất dữ liệu đầy đủ, rất thuận lợi cho công tác quản lý và kiểm tra.”

Việc tái sử dụng dữ liệu số giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý, giảm chi phí tuân thủ và đặc biệt là hạn chế tối đa sai sót trong quá trình giải quyết thủ tục. Một nền hành chính “không giấy tờ” đang dần trở thành hiện thực trong lĩnh vực lâm nghiệp.

Anh Trần Vũ Quang, thôn Thượng, xã Đồng Tâm, chia sẻ: “Trước đây làm thủ tục liên quan đến rừng phải đi lên huyện vài lần, có khi thiếu giấy tờ lại quay về bổ sung. Bây giờ nhiều thủ tục làm online được, nhanh hơn, đỡ tốn thời gian, chi phí.”

Không chỉ dừng lại ở việc số hóa thủ tục, toàn bộ quy trình làm việc, hồ sơ lưu trữ và kết quả giải quyết công việc tại các đơn vị kiểm lâm đều đã được chuyển đổi sang dạng dữ liệu số. 100% dữ liệu được tái sử dụng để tự động điền và xác thực thông tin, thay thế giấy tờ trong thành phần hồ sơ. Đây là bước chuyển mang tính nền tảng, giúp ngành kiểm lâm không chỉ “làm nhanh hơn” mà còn “làm thông minh hơn”.

Dữ liệu giờ đây trở thành “tài nguyên” quan trọng, phục vụ công tác quản lý, dự báo và ra quyết định từ cấp cơ sở đến cấp tỉnh.

Từ “giữ rừng bằng chân” đến “giữ rừng bằng dữ liệu”.

Chuyển đổi số không chỉ diễn ra trong quản lý hành chính mà còn lan tỏa mạnh mẽ vào sản xuất lâm nghiệp. Việc ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất giống cây rừng đã giúp Tuyên Quang chủ động nguồn giống chất lượng cao, nâng cao năng suất và giá trị rừng trồng.

Các giống cây nuôi cấy mô, giống nhập ngoại, giống bản địa ưu việt được đưa vào sản xuất, thay thế dần nguồn giống kém chất lượng. Diện tích rừng trồng thâm canh, bón phân ngày càng tăng, kéo theo năng suất rừng cải thiện rõ rệt qua từng chu kỳ.

kl4-1775807105.jpg
Lực lượng kiểm lâm phối hợp với người dân địa phương kiểm tra thực địa, nắm bắt tình hình rừng và tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

Ông Đào Duy Tuấn nhấn mạnh: “Chúng tôi xác định chuyển đổi số phải gắn với phát triển kinh tế lâm nghiệp. Khi có dữ liệu tốt, có công nghệ phù hợp, người dân sẽ trồng rừng hiệu quả hơn, từ đó nâng cao thu nhập và gắn bó với rừng lâu dài.”

Đặc biệt, hơn 96.500 ha rừng trồng của tỉnh đã được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững, đưa Tuyên Quang trở thành địa phương dẫn đầu cả nước. Đây là kết quả của một quá trình chuyển đổi có định hướng, trong đó công nghệ đóng vai trò then chốt.

Ông Lục Xuân Thành, thôn Bó Lách, xã Quản Bạ, cho biết: “Được hướng dẫn kỹ thuật, chọn giống tốt, lại có thông tin cập nhật thường xuyên, nên rừng trồng phát triển tốt hơn trước. Người dân cũng yên tâm đầu tư lâu dài”.

Song hành với chuyển đổi trong nội bộ, ngành kiểm lâm cũng đẩy mạnh xây dựng xã hội số. Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức bảo vệ rừng được thực hiện mạnh mẽ trên các nền tảng số.

Chỉ tính từ đầu năm 2026 đến nay, đã có 60 tin, bài được đăng tải, lan tỏa những mô hình hay, cách làm hiệu quả và các điển hình tiên tiến. Những câu chuyện giữ rừng không còn chỉ nằm trong báo cáo, mà đã đến gần hơn với người dân qua từng cú chạm trên điện thoại.

Việc triển khai Đề án 06 của Chính phủ về phát triển dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử cũng được Chi cục Kiểm lâm thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Các nhiệm vụ chuyển đổi số của ngành được kết nối đồng bộ với hệ thống chung của tỉnh và quốc gia, tạo nên một hệ sinh thái dữ liệu liên thông, thống nhất.

Anh Phạm Tường Văn, Kiểm lâm viên - Phòng Quản lý bảo vệ rừng và Bảo tồn thiên nhiên, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang, chia sẻ: “Chuyển đổi số đã hỗ trợ rất nhiều cho công việc của chúng tôi. Trước đây, việc tổng hợp số liệu, theo dõi diễn biến rừng hay xử lý hồ sơ chủ yếu làm thủ công nên mất nhiều thời gian, dễ sai sót. Hiện nay, khi tất cả được thực hiện trên hệ thống số, việc cập nhật, tra cứu và phân tích thông tin trở nên nhanh chóng, chính xác hơn rất nhiều.”

Anh Văn cũng cho biết thêm: “Đặc biệt, việc số hóa dữ liệu giúp chúng tôi dễ dàng theo dõi lịch sử hồ sơ, kiểm soát thông tin và phục vụ công tác tham mưu kịp thời. Điều này rất quan trọng trong bối cảnh yêu cầu quản lý rừng ngày càng cao, đòi hỏi phải có dữ liệu đầy đủ, minh bạch.”

kl5-1775807105.jpg
Kiểm lâm cùng lực lượng chức năng nghiên cứu bản đồ hiện trạng rừng tại khu vực mốc biên giới, triển khai phương án quản lý và bảo vệ rừng hiệu quả.

Chuyển đổi số không làm thay đổi bản chất công việc của người kiểm lâm họ vẫn bám rừng, giữ rừng. Nhưng công nghệ đã giúp họ làm điều đó hiệu quả hơn, chủ động hơn.

Từ những bước chân nơi rừng sâu đến những cú click chuột trên hệ thống tất cả đang hòa vào một nhịp chuyển động mới. Chuyển đổi số không làm mất đi hình ảnh người kiểm lâm bám rừng, mà đang tiếp thêm sức mạnh cho họ. Khi dữ liệu được số hóa, quy trình được tự động hóa và thông tin được kết nối, mỗi cánh rừng như được “gắn thêm một lớp bảo vệ vô hình”.

Nhịp chuyển động của dữ liệu, của công nghệ và của tư duy đổi mới ở Tuyên Quang, hành trình ấy không chỉ là câu chuyện của ngành kiểm lâm. Đó là câu chuyện về cách một địa phương thích ứng với thời đại, để giữ gìn “lá phổi xanh” không chỉ cho hôm nay, mà cho cả mai sau./.

Đăng ký đặt báo