Hơn 808.000 tỷ đồng cho chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2035 hướng tới nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững và thu hẹp khoảng cách phát triển vùng miền, với cơ chế điều phối thống nhất và nguồn lực đầu tư quy mô lớn.
chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-1791889915.jpg
Định hình chương trình mục tiêu quốc gia mới, nâng cao đời sống người dân.

Tăng cường điều phối, thống nhất triển khai từ Trung ương đến địa phương

Ngày 12/10/2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng ký Quyết định số 1966/QĐ-TTg thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026–2035. Đây là đầu mối phối hợp liên ngành, có nhiệm vụ hỗ trợ Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, điều phối các vấn đề quan trọng, có tính chất liên ngành trong suốt quá trình thực hiện Chương trình.

Theo quyết định, Thủ tướng Lê Minh Hưng giữ chức Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương; Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đảm nhiệm vị trí Phó Trưởng ban Thường trực. Các Phó Trưởng ban gồm Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng và Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu.

Thành phần ủy viên thường trực có bộ trưởng các bộ phụ trách những lĩnh vực then chốt, gồm Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng, Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh, Bộ Y tế Đào Hồng Lan và Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang.

Ban Chỉ đạo còn có sự tham gia của lãnh đạo, đại diện các bộ, cơ quan trung ương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội cùng các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội. Cơ cấu này tạo điều kiện kết nối các lĩnh vực từ quản lý ngân sách, phát triển hạ tầng, giáo dục, y tế đến chính sách dân tộc, an sinh xã hội và phát triển sản xuất tại địa phương.

Về nhiệm vụ, Ban Chỉ đạo có trách nhiệm nghiên cứu, đề xuất phương hướng, giải pháp chỉ đạo, điều hành; phân công phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương; theo dõi tiến độ thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra. Những vướng mắc vượt thẩm quyền cũng sẽ được tổng hợp, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá, sơ kết và tổng kết được xác định là một phần trong hoạt động của Ban Chỉ đạo, qua đó hỗ trợ phát hiện những bất cập trong quá trình triển khai và kịp thời điều chỉnh cách thức tổ chức thực hiện.

Ban Chỉ đạo hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân của Trưởng ban, các Phó Trưởng ban và từng ủy viên theo nhiệm vụ được giao. Trưởng ban có trách nhiệm ban hành quy chế tổ chức, hoạt động và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên. Việc thay đổi nhân sự giữ chức danh tham gia Ban Chỉ đạo phải được cơ quan liên quan thông báo bằng văn bản cho cơ quan thường trực để cập nhật, theo dõi.

Việc thiết lập cơ chế điều phối thống nhất diễn ra trong bối cảnh ba chương trình mục tiêu quốc gia được tích hợp, đặt ra yêu cầu phối hợp chặt chẽ hơn giữa các cấp, ngành. Hiệu quả triển khai không chỉ phụ thuộc vào quy mô vốn mà còn gắn với khả năng tháo gỡ điểm nghẽn về thủ tục, phân bổ nguồn lực đúng trọng tâm và bảo đảm các chính sách đến được với người dân.

Hướng tới nâng cao thu nhập, giảm nghèo và phát triển nông thôn bền vững

chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-1791890072.jpg
Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026–2035 thúc đẩy xây dựng nông thôn hiện đại, phát triển bền vững và nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.

Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026–2035 được xây dựng trên cơ sở các định hướng, cơ chế quản lý và mục tiêu phát triển đã được ban hành. Nghị quyết số 257/2025/QH15 xác lập những chỉ tiêu chủ yếu cho giai đoạn mới; Chính phủ ban hành Nghị định số 358/2025/NĐ-CP quy định cơ chế quản lý các chương trình mục tiêu quốc gia. Ngày 31/1/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng ban hành Quyết định số 417/QĐ-BNNMT phê duyệt Chương trình giai đoạn I, từ năm 2026 đến năm 2030.

Một trong những mục tiêu trọng tâm là cải thiện đáng kể đời sống người dân nông thôn. Đến năm 2030, thu nhập bình quân khu vực này được đặt mục tiêu tăng từ 2,5 đến 3 lần so với năm 2020. Thu nhập của người dân tộc thiểu số phấn đấu đạt ít nhất một nửa mức bình quân chung cả nước, trong khi tỷ lệ nghèo đa chiều toàn quốc cần giảm bình quân 1–1,5 điểm phần trăm mỗi năm.

Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, chương trình hướng tới đưa tỷ lệ hộ nghèo đa chiều xuống dưới 10%, đồng thời cơ bản không còn xã, thôn thuộc diện đặc biệt khó khăn. Trong xây dựng nông thôn mới, mục tiêu đến năm 2030 là khoảng 65% số xã đạt chuẩn, trong đó khoảng 10% đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại; có 5 tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Xa hơn, đến năm 2035, thu nhập bình quân của người dân nông thôn tiếp tục tăng ít nhất 1,6 lần so với năm 2030.

Những chỉ tiêu này được đặt ra trong điều kiện chuẩn nghèo đã được điều chỉnh theo hướng cao hơn. Theo thông tin của chương trình, hộ nghèo ở nông thôn được xác định với mức thu nhập từ 1,9 triệu đồng/người/tháng trở xuống, thay cho ngưỡng 1,5 triệu đồng trước đây. Vì vậy, nhiệm vụ giảm nghèo không đơn thuần là đưa các hộ vượt qua ngưỡng thu nhập mà còn đòi hỏi cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, tạo sinh kế ổn định và hạn chế nguy cơ tái nghèo.

Về nguồn lực, kế hoạch ban đầu cho ba chương trình mục tiêu quốc gia trong giai đoạn 2026–2030 dự kiến bố trí khoảng 423.000 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước, gồm 100.000 tỷ đồng ngân sách trung ương, khoảng 300.000 tỷ đồng ngân sách địa phương và 23.000 tỷ đồng tín dụng chính sách. Trong phần ngân sách trung ương, 70.000 tỷ đồng dành cho đầu tư công và 30.000 tỷ đồng cho chi thường xuyên. Tổng nguồn vốn huy động dự kiến khoảng 1,044 triệu tỷ đồng, cho thấy vai trò đáng kể của ngân sách địa phương và các nguồn lực bổ sung.

Sau khi hợp nhất theo Nghị quyết số 46/2026/QH16, tổng nguồn lực của chương trình chung giai đoạn 2026–2030 được xác định ở mức 808.558 tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương là 345.000 tỷ đồng, gồm 244.200 tỷ đồng vốn đầu tư công và 100.800 tỷ đồng chi thường xuyên; ngân sách địa phương là 395.392 tỷ đồng. Quy mô nguồn lực này bao gồm cả các nội dung liên quan đến văn hóa, giáo dục và y tế, vì vậy cần phân biệt với mức vốn dự kiến ban đầu của ba chương trình trước khi tích hợp.

Bên cạnh việc phân bổ vốn, Chương trình đặt trọng tâm vào đổi mới phương thức triển khai. Các nội dung xây dựng nông thôn mới gắn với phát triển sản phẩm OCOP, làng nghề và du lịch nông thôn; giảm nghèo bền vững tập trung hỗ trợ sinh kế, việc làm; còn các chính sách dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số hướng đến thu hẹp chênh lệch phát triển, bảo tồn bản sắc và phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng.

So với giai đoạn trước, mô hình mới hướng tới tinh gọn đầu mối, tăng quyền chủ động cho địa phương và chuyển trọng tâm từ số lượng sang chất lượng, hiệu quả lâu dài. Trong đó, ngân sách trung ương giữ vai trò định hướng, hỗ trợ, còn địa phương cần chủ động bố trí nguồn lực phù hợp với điều kiện thực tế. Việc huy động đóng góp của người dân phải bảo đảm tự nguyện, công khai, minh bạch và không vượt quá khả năng của cộng đồng.

Năm 2026 được xác định là năm khởi đầu với phương châm “Đồng bộ chính sách - Thống nhất hành động”. Yêu cầu đặt ra là làm rõ trách nhiệm của từng cấp, bảo đảm chính sách được thực thi nhất quán từ trung ương đến cơ sở và tăng cường sự tham gia của người dân trong quá trình lựa chọn, thực hiện các dự án.

Khi nguồn vốn được phân bổ minh bạch, quyền chủ động của địa phương đi cùng cơ chế giám sát hiệu quả và người dân thực sự giữ vai trò chủ thể, Chương trình mới có thể tạo chuyển biến bền vững về kinh tế - xã hội, cải thiện chất lượng sống và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền.

Đăng ký đặt báo