Trao đổi với phóng viên, ông Phạm Văn Phúc, Phó Giám đốc Vườn quốc gia (VQG) Cát Bà thuộc đặc khu Cát Hải, TP Hải Phòng, vui mừng thông báo, năm 2025, theo quan sát của lực lượng Kiểm lâm trực thuộc Vườn, có tổng cộng 14 con voọc Cát Bà được sinh ra. Nhờ đó, tổng số đàn voọc tại VQG Cát Bà được nâng lên gần 90 cá thể, chủ yếu phân bố tại khu vực Cửa Đông, Giỏ Cùng.
Tuy nhiên, với số lượng bầy đàn như vậy, voọc Cát Bà vẫn thuộc một trong những loài linh trưởng quý hiếm bậc nhất thế giới cần sự chung tay gìn giữ, bảo tồn cả về phía người dân lẫn cơ quan chức năng liên quan, chính quyền địa phương.
Theo lời kể của các bậc cao niên trong vùng, từ xa xưa, các thợ săn ở Cát Bà ít săn bắt voọc bởi thịt chúng có mùi gây, tanh rất khó ăn. Bên cạnh đó, voọc Cát Bà còn có thói quen ăn rất nhiều loại cây, quả rất độc như lá ngón, lá sơn, quả mã tiền…, nên người dân địa phương sợ bị nhiễm độc khi ăn thịt chúng. Thứ duy nhất cánh thợ săn ở đảo Cát Bà khai thác từ voọc, đó là phần máu khô của voọc cái chảy ra sau khi đẻ theo kinh nghiệm dân gian có thể chữa chứng chảy máu cam và bệnh phụ nữ sau khi sinh. Vì thế, voọc Cát Bà có điều kiện thuận lợi để sinh trưởng và phát triển bầy đàn. Quãng thời gian cao điểm cách đây hơn 40 năm, ước tính trên Quần đảo Cát Bà, có tới hàng nghìn cá thể voọc Cát Bà sinh sống.

Thế nhưng, hàng chục năm trước, giới nhà giàu rỉ tai về công dụng của mật voọc Cát Bà. Họ cho rằng, sở dĩ voọc có thể ăn nhiều loại cây, quả rất độc mà không hề hấn gì do mật tiết ra chất giải độc. Vì thế, họ coi mật voọc là “thần dược” chữa bách bệnh dù không có cơ sở khoa học và thực tế nào chứng minh. Trong cơn sốt ấy, mật voọc Cát Bà được đặt mua với giá cao. Có khi, chỉ bán vài ba cái mật voọc, có thể dựng căn nhà gỗ to đẹp.
Từ chỗ ít bị săn bắt, voọc trở thành mục tiêu số 1 của cánh thợ săn ở Cát Bà. Theo giới thợ săn địa phương, cách săn bắt voọc dễ nhất là lựa khi chúng ngủ bám vào vách đá nhanh tay giật phần đuôi rất dài để chúng rơi xuống biển. Khác với khỉ vàng, voọc không biết bơi nên nhanh chóng bị chết đuối. Cánh thợ săn chỉ việc vớt lên mổ lấy mật phơi khô giao cho khách. Vì thế, số lượng đàn voọc Cát Bà không ngừng suy giảm. Đến năm 2000, số lượng voọc Cát Bà còn chưa tới 40 con.
Theo ông Nguyễn Văn Thịu, Giám đốc VQG Cát Bà, trước nguy cơ tuyệt chủng của voọc Cát Bà, từ năm 2000 đến nay, VQG Cát Bà cũng như chính quyền TP Hải Phòng và huyện Cát Hải (nay là đặc khu Cát Hải), có nhiều giải pháp để bảo vệ và phát triển đàn voọc. Trong đó, ưu tiên hàng đầu là tuyên truyền, vận động các thợ săn không vào rừng săn bắt trái phép động vật hoang dã nói chung, voọc nói riêng và tăng cường tuần tra, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm.
Do sự mạnh tay của cơ quan chức năng, nhất là lượng thú rừng giảm khiến những chuyến đi rừng trắng tay ngày càng nhiều, hầu hết thợ săn ở Cát Bà bỏ nghề chuyển sang khai thác thủy sản, làm dịch vụ du lịch. Một số thợ săn tham gia chương trình bảo vệ rừng, bảo vệ voọc do VQG Cát Bà và một số tổ chức phi chính phủ khởi xướng. Từ năm 2000 đến nay, tình trạng săn bắt trái phép voọc Cát Bà giảm mạnh. Đặc biệt, hơn 10 năm trở lại đây, cơ quan chức năng chưa phát hiện trường hợp săn bắt trái phép nào. Nhờ vậy, bầy voọc dần được phục hồi.

Mặc dù không còn tình trạng săn bắt trái phép, nhưng bầy voọc Cát Bà vẫn chưa thoát khỏi nguy cơ tuyệt chủng. Theo Nguyễn Huy Cầm, cán bộ Kiểm lâm trực thuộc VQG Cát Bà, người gắn bó với loài linh trưởng đặc hữu của VQG Cát Bà hàng chục năm và được mệnh danh là “người gác voọc Cát Bà”, cho biết: “Voọc đực có thói quen giết hại con non sau khi cướp đàn. Vì thế, mặc dù voọc non được liên tục sinh ra, có năm lên tới hơn 10 cá thể, nhưng số lượng voọc tăng thêm hằng năm rất thấp. Bên cạnh đó, do bầy đàn thu hẹp nên xảy ra tình trạng giao phối cận huyết khiến con non sinh ra dễ chết yểu. Ngoài ra, bầy voọc Cát Bà còn phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt từ đàn khỉ vàng trên đảo với số lượng đông hơn gấp hàng chục lần”.
Để cứu đàn voọc Cát Bà khỏi nguy cơ tuyệt chủng, ông Nguyễn Văn Thịu, Giám đốc VQG Cát Bà, cho biết, đơn vị đã và đang phối hợp các cơ quan chức năng liên quan của TP Hải Phòng, các nhà khoa học, tổ chức phi chính phủ… xem xét di chuyển con đực chưa có đàn sang các khu vực khác để tránh tình trạng giết con non sau khi cướp đàn, hạn chế tình trạng giao phối cận huyết.
Bên cạnh đó, đơn vị tăng cường phối hợp để quảng bá hình ảnh loài voọc Cát Bà ra cộng đồng trong nước, quốc tế, kêu gọi thêm nhiều tổ chức cùng phối hợp thực hiện công tác bảo tồn, phát triển đàn voọc.
Tuy nhiên, điều khó khăn nhất để phát triển đàn voọc là tình trạng cá thể ít, bầy đàn thu hẹp dẫn đến giao phối cận huyết làm con non sinh ra dễ bị chết yểu, thói quen giết hại con non của voọc đực sau khi cướp đàn, vẫn chưa tìm được “lời giải”. Vì thế, hành trình bảo tồn và phát triển đàn voọc Cát Bà cần thêm nhiều cố gắng, nỗ lực hơn nữa.