Đưa eCDT vào quản lý tàu cá, trọng tâm là đồng bộ dữ liệu và chống IUU

Sau 6 tháng vận hành, Hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT) đã được triển khai tại 48.624 trong tổng số 80.209 tàu cá từ 6 m trở lên, tương đương 60,62%. Khoảng cách lớn giữa các địa phương đang đặt ra yêu cầu đẩy nhanh tiến độ, hoàn thiện dữ liệu và nâng hiệu quả kiểm soát hoạt động khai thác.
quan-ly-tau-ca-1790145741.webp
Hơn 48.000 tàu cá đã tham gia eCDT, yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu.

Thu hẹp khoảng cách triển khai giữa các địa phương

Hệ thống eCDT được xác định là một trong những công cụ phục vụ số hóa công tác quản lý khai thác thủy sản, từ kiểm soát tàu cá ra vào cảng đến giám sát sản lượng và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Việc vận hành hệ thống cũng gắn với yêu cầu tăng cường các giải pháp chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).

Cơ sở pháp lý cho việc triển khai eCDT được đặt ra tại Thông tư số 81/2025/TT-BNNMT do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành ngày 31/12/2025. Thông tư quy định nhiều nội dung liên quan đến ghi, nộp báo cáo, nhật ký khai thác; kiểm tra tàu cá; giám sát sản lượng tại cảng; quản lý danh sách tàu cá khai thác bất hợp pháp; xác nhận nguyên liệu và chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác.

Theo khoản 5 Điều 22 của Thông tư, từ ngày 1/3/2026, eCDT được sử dụng trong quản lý tàu cá rời cảng, cập cảng và cấp giấy biên nhận đối với sản phẩm thủy sản khai thác được bốc dỡ. Quy định này đồng thời xác lập lộ trình thực hiện truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác trên môi trường điện tử.

Sau 6 tháng, tính từ ngày 1/3 đến ngày 1/9/2026, hệ thống đã ghi nhận 48.624/80.209 tàu cá từ 6 m trở lên tham gia, đạt 60,62%. Một số địa phương đã đạt tỷ lệ triển khai trên 90%, gồm Nghệ An 97,88%, Quảng Ngãi 96,42%, Ninh Bình 96,13% và Thanh Hóa 94,89%. Tuy nhiên, bức tranh chung vẫn có sự phân hóa đáng kể. Tỷ lệ tàu cá tham gia eCDT giữa các địa phương dao động từ 12,30% đến 97,88%. Trong đó, Tây Ninh đạt 12,30%, Hà Tĩnh 17,21%, An Giang 22,14%, Vĩnh Long 40,67%, Cà Mau 41,58% và TP. Huế 46,25%.

Chênh lệch này không chỉ thể hiện ở số lượng tàu cá đã tham gia hệ thống mà còn phản ánh sự khác nhau về khả năng tổ chức kiểm soát, cập nhật và khai thác dữ liệu tại từng địa phương. Khi thông tin về tàu cá, chuyến biển, hoạt động ra vào cảng hoặc sản lượng bốc dỡ chưa được cập nhật đầy đủ, chuỗi dữ liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc sẽ xuất hiện những khoảng trống.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc kiểm soát tàu cá rời cảng, cập cảng và cập nhật thông tin trên eCDT tại một số địa phương chưa được tổ chức đồng bộ. Tình trạng này có thể ảnh hưởng đến tính đầy đủ, chính xác và khả năng đối chiếu dữ liệu, qua đó tác động đến công tác kiểm soát hoạt động khai thác, giám sát sản lượng thủy sản bốc dỡ tại cảng và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Trong bối cảnh đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa đề nghị Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố ven biển tập trung chỉ đạo việc triển khai eCDT. Trọng tâm trước mắt là rà soát, đối chiếu dữ liệu toàn bộ tàu cá từ 6 m trở lên với thông tin trên hệ thống; xác định những tàu chưa tham gia, chưa hoàn thành thủ tục hoặc chưa cập nhật đầy đủ dữ liệu. Từ kết quả rà soát, địa phương cần làm rõ nguyên nhân và tổ chức khắc phục nhằm bảo đảm hoạt động kiểm soát tàu cá và cập nhật thông tin được thực hiện thống nhất.

Từ số hóa thủ tục đến quản trị biển bằng dữ liệu

Nếu chỉ nhìn ở khía cạnh thủ tục hành chính, eCDT là công cụ hỗ trợ ghi nhận và truy xuất thông tin sản phẩm thủy sản khai thác. Tuy nhiên, khi dữ liệu được cập nhật xuyên suốt quá trình từ tàu rời cảng, khai thác trên biển, trở về cảng cho đến khi bốc dỡ sản phẩm, hệ thống còn tạo ra nền tảng dữ liệu phục vụ quản lý nghề cá.

ecdt-la-cong-cu-ho-tro-ghi-nhan-va-truy-xuat-thong-tin-san-pham-thuy-san-khai-thac-1790147162.webp
eCDT giúp số hóa dữ liệu khai thác thủy sản. (Ảnh minh hoạ)

Giá trị của hệ thống vì thế không nằm đơn thuần ở việc bao nhiêu tàu cá đã được đưa vào phần mềm, mà còn ở mức độ đầy đủ, chính xác và khả năng kết nối của dữ liệu. Khi các thông tin được chuẩn hóa, cơ quan quản lý có thêm cơ sở để kiểm soát hoạt động khai thác, đối chiếu sản lượng và xác định nguồn gốc sản phẩm thay vì phụ thuộc chủ yếu vào hồ sơ giấy tờ hoặc dữ liệu phân tán.

Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu nâng cao năng lực quản trị biển thông qua khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt vấn đề phát triển kinh tế biển gắn với nâng cao năng lực quản trị, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Tiếp đó, Nghị quyết số 218/NQ-CP ngày 7/8/2026 của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW tiếp tục cụ thể hóa định hướng phát triển kinh tế biển theo hướng hiện đại, xanh, thông minh, dựa trên khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.

Trong tiến trình đó, những hệ thống dữ liệu chuyên ngành như eCDT có thể trở thành một bộ phận của hạ tầng quản trị biển. Khi dữ liệu về tàu cá, cảng cá, chuyến biển, sản lượng và nguồn gốc thủy sản được cập nhật và liên thông, cơ quan quản lý có điều kiện hình thành bức tranh đầy đủ hơn về hoạt động khai thác, qua đó nâng cao khả năng giám sát và điều hành.

Để quá trình này đạt hiệu quả, Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu các địa phương không chỉ tập trung vào việc tăng số lượng tàu tham gia mà còn phải bảo đảm chất lượng dữ liệu. Công tác tuyên truyền, tập huấn và hướng dẫn ngư dân tiếp tục được đặt ra, trong đó chú trọng các thao tác khai báo khi tàu rời cảng, cập cảng, qua trạm kiểm soát biên phòng và thực hiện truy xuất nguồn gốc trên eCDT theo Thông tư số 81/2025 và Thông tư số 33/2026, được hợp nhất tại Văn bản số 80/2026/VBHN-TT-BNNMT ngày 27/8/2026.

Cùng với hướng dẫn người sử dụng, các địa phương phải bố trí đủ nhân lực, thiết bị và các điều kiện cần thiết để vận hành hệ thống tại cảng cá. Hoạt động kiểm tra, tuần tra và kiểm soát cũng cần được tăng cường nhằm phát hiện, xử lý trường hợp bốc dỡ sản phẩm thủy sản khai thác không đúng quy định.

Bộ đồng thời yêu cầu các địa phương theo dõi, giám sát và đôn đốc tiến độ triển khai tại từng cảng cá. Đối với những nơi có tỷ lệ tàu cá tham gia, thực hiện thủ tục hoặc cập nhật dữ liệu thấp, cần kiểm điểm và xác định trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan, trong đó có trách nhiệm của người đứng đầu. Những tồn tại phải được chấn chỉnh, khắc phục và xử lý theo quy định.

Một yêu cầu khác được đặt ra là tiếp tục hoàn thiện mạng lưới cảng cá. Căn cứ Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 3/7/2024 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, các địa phương cần rà soát, xây dựng và phê duyệt quy hoạch chi tiết đối với những cảng cá, khu neo đậu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Nguồn lực cũng cần được ưu tiên cho việc đầu tư, nâng cấp các cảng cá đáp ứng tiêu chí theo Thông tư số 02/2026/TT-BNNMT và Thông tư số 33/2026/TT-BNNMT. Đây là cơ sở để công bố mở mới hoặc mở lại các cảng cá theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu xuất, nhập bến và bốc dỡ sản phẩm của ngư dân.

Sau 6 tháng vận hành, eCDT đã hình thành một nền tảng dữ liệu bước đầu phục vụ quản lý khai thác thủy sản. Tuy nhiên, tỷ lệ 60,62% cũng cho thấy quá trình số hóa vẫn còn khoảng cách lớn giữa các địa phương. Việc tiếp tục mở rộng phạm vi tham gia, chuẩn hóa dữ liệu và nâng cao năng lực vận hành sẽ quyết định mức độ hiệu quả của hệ thống trong thời gian tới.

eCDT (viết tắt của Hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử - electronic Catch Documentation System) là phần mềm số hóa dùng để quản lý, ghi nhận và tra cứu thông tin nguồn gốc hải sản khai thác từ tàu cá.

Đăng ký đặt báo